Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH LUANGPRABANG VÀ CỘNG ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH LUANGPRABANG 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Luang Prabang 1. Lịch sử và vị trí địa lý Luang Prabang (tỉnh lị tỉnh Luang Prabang) là một tỉnh nằm ở phía Bắc thuộc vùng núi Thượng Lào cách thủ đô Vientiane 425 km. Luang Prabang là cố đô của Vương quốc Lan Xang (Lạn Xạng) - Triệu voi được thành lập bởi vua Fa Ngum năm 1353 và kéo dài đến thế kỷ XVII.
Mương Xua, tên cũ của Luangprabang, vào năm 698 bị một thủ lĩnh người Thái là Khun Lo chinh phục. Khun Borom, cha của Khun Lo là nhân vật gắn liền với nhiều truyền thuyết của người Lào về việc sáng tạo ra thế giới, là truyền thuyết chung của dân tộc Lào cùng với người Shan và các dân tộc khác trong vùng. Khun Lo đã lập ra một triều đại với mười lăm đời vua nối tiếp nhau cai trị vùng Mương Xua độc lập. Đây là một giai đoạn yên ổn kéo dài trong lịch sử Luangprabang.
Nửa cuối thế kỷ 8, Nam Chiếu (Vương quốc hùng cường ở Vân Nam, Trung Hoa) thường can thiệp vào công việc của các quốc gia vùng châu thổ sông Mê Kông dẫn tới việc đóng chiếm Mương Xua. Vùng đất này đã bị cai trị bởi các hoàng tử và các vị quan người Nam Chiếu. Thời gian của cuộc chiếm đóng này hiện chưa được biết, nhưng có lẽ nó đã kết thúc trước khi diễn ra cuộc bắc tiến của đế quốc Khmer dưới thời vua Indravarman I (khoảng năm 877-889) và kéo dài tới tận các vùng lãnh thổ của Sipsong Panna ở thượng lưu sông Mê Kông. Cùng lúc ấy người Khmer thành lập khu tiền đồn ở Xai Phoong gần Vientiane và Chămpa, kéo dài tới tận miền Nam - nước Lào ngày nay và tiếp tục hiện diện trên hai bờ sông Mê Kông đến tận năm 1070.
Chanthaphanit, vị quan địa phương cai trị Xay Phoong, di chuyển về phía bắc đến Mương Xua và được làm người cai trị ở đó sau khi các vị quan của Nam Chiếu rút đi. Chanthaphanit và con trai có thời gian cầm quyền rất lâu. Trong giai đoạn đó, vùng đất Luangprabang cổ bắt đầu được gọi theo cái tên bằng tiếng Xiêm là Xiêng Đông - Xiêng Thoong. Sau này triều đình của Chanthaphanit đã tham dự vào cuộc xung đột giữa một số quốc gia lân cận.
Khun Chương, một vị chúa người Kamu hiếu chiến (những cách đánh vần khác gồm Khơ Mu và Kamu) đã mở rộng lãnh thổ của mình và chiếm đóng 7 c vùng đất Xiêng Đông - Xiêng Thoong trong khoảng thời gian từ năm 1128 đến năm 1169. Dưới thời này, dòng họ Khun Chương đã cai trị và tái lập hệ thống hành chính kiểu Xiêm từ thế kỷ thứ 7 [30, tr. Năm 1353, bằng tài năng quân sự cùng với sự giúp đỡ của quốc vương Campuchia, Pha Ngưm - vị hoàng tử đã thống nhất các tiểu vương quốc thành vương quốc Lanxang rộng lớn. Xiêng Đông - Xiêng Thoong trở thành thủ đô của vương quốc Lanxang và chính thức được đổi tên thành Luangprabang.
Cái tên này có ý nghĩa đặc biệt bởi nó được ghép lại bởi ba từ: Luang là lớn, Pra là Phật, Bang tức là công đức. Luangprabang có thể được hiểu là tượng Phật lớn được sùng tạo từ công đức của nhiều người, tạm dịch là Tụ Đức Đại Phật Tượng. Năm 1560 Vua Saysetthathirat đã dời thủ đô tới Vientiane, hiện nay vẫn là thủ đô của Lào [30, tr. Năm 1707, vương quốc Lanxang tan rã và Luangprabang trở thành thủ đô của Vương quốc Luangprabang độc lập.
Khi sáp nhập Lào vào thuộc địa của mình, Pháp công nhận Luangprabang là nơi cư ngụ của hoàng gia Lào. Cuối cùng, vị vua cai trị Luangprabang trở thành nguyên thủ quốc gia của Nhà nước bảo hộ Lào thuộc Pháp. Khi Lào giành lại độc lập, vua Luangprabang- Sisavangvong trở thành lãnh đạo và là vị vua cuối cùng của vương quốc Lào [30, tr. 2 Hiện nay, tỉnh Luang Prabang có diện tích 16.875 km (là tỉnh có diện tích lớn thứ hai của Lào), dân số: 463.
Tỉnh Luang Prabang tiếp giáp với tỉnh Sơn La (Việt Nam) ở phía Bắc và 6 tỉnh của Lào, cụ thể: phía Bắc tiếp giáp tỉnh Phongsaly, phía Tây giáp tỉnh Oudomxai, tỉnh Xayaboury; phía Nam giáp tỉnh Viengchan; phía Đông giáp tỉnh Xiengkhouang và Houaphan. Điều kiện tự nhiên và dân cư Tỉnh Luangprabang có địa hình phần lớn là đồi núi cao, từ 1.600m, thấp nhất là 247 mét so với mặt nước biển, diện tích 85% là vùng đồi núi cao, đồng bằng ven sông Mê Kông nhỏ hẹp. Địa hình này tạo điều kiện cho tỉnh Luang Prabang phát triển kinh tế đa dạng. Nằm trong khu vực có núi đồi cao, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thấp nhất là 14°C, cao nhất là 40°C.
Số lượng nước mưa hằng năm đo được 1. Như vậy, khí hậu của tỉnh Luang Prabang khá thuận lợi cho hoạt động du lịch, nhiệt độ không quá nóng và quá lạnh, ít có những ngày mây mù có thế tổ chức các hoạt động du lịch quanh 8 c năm, một ưu thế hơn hẳn một số huyện ở vùng ven sông Mê Kông, sông Khan, sông Ou và sông Xeuang [25]. Tỉnh Luangprabang có nhiều loại khoáng sản, có nhiều mỏ cũng đã được kiểm tra khai thác như mỏ vàng ở huyện Pak Ou. Các mỏ chưa được kiểm tra khai thác như: mỏ ngọc thạch ở huyện Xieng Ngeun, mỏ than ở huyện Chomphet, mỏ đồng ở huyện Nambak và huyện Phonxay, mỏ chì ở huyện Ngoi và mỏ đá quỹ ở huyện Phonxay, huyện Nambak.
2 Luangprabang có 13 lưu vực sông và suối. Tổng diện tích lưu vực 13.000 km 3 với chiều dài sông suối 15. Nguồn nước mưa hằng năm khoảng 9,13 tỷ m. Nguồn nước phân bố mất cân đối theo thời gian và không gian.
Tỉnh còn có một số mỏ nước khoáng có giá trị phục vụ tiêu dùng và chữa bệnh như nước khoáng Bokeo huyện Xieng Ngeun, Thác Se, vàng sông Xở và đặc biệt có nguồn nước nóng tại huyện Viengkham là điều kiện để tổ chức các hoạt động du lịch với loại hình nghỉ dưỡng chữa bệnh và nghỉ mát. Tỉnh Luangprabang là nơi sinh sống của những người Lào từ rất sớm. Những tộc người này đã cùng sinh sống hòa hợp với nhau trong suốt nhiều thế kỷ qua. Đó là những tộc người Ai Lao, người Nam Á, H’Mông, Dao.
Hiện nay Lào có 49 dân tộc. Nhưng trước đây, theo cách phân chia tộc người của các nhà dân tộc học, có thể thống kê các nhóm như sau: Các tộc người được chia làm ba nhóm lớn: Lào Lum, Lào Theumg và Lào Soung. Trong đó Lào Lum là bộ tộc có vai trò chủ thể như người Kinh ở Việt Nam, thống lĩnh trong chính trị, kinh tế và có nền văn hóa phong phú, đa dạng và phát triển. Đặc điểm của ba nhóm người trên đất nước Lào là: Lào Lum (người Lào Lum ở đồng bằng, chủ yếu là người Lào Thay, Phuôn) chiếm 68% trong số hơn 6 triệu dân trên đất nước Lào.
Phần lớn họ làm nông nghiệp và ngư nghiệp (trồng lúa nước, chăn nuôi, săn bất thú rừng, đánh cá sông…) Số dân tộc Lào Lum sinh sống tại Luangprabang vào khoảng 147. Lào Theung (Người Lào Theung sống ở vùng trung du, chủ yếu là người thuộc nhóm Mon - Khame) chiếm 22%. Họ chủ yếu sống bằng nghề làm nương rẫy và rất giỏi trong nghề truyền thống làm mây, tre đan. Tộc người này chiếm phần đông ở Luangprabang với khoảng 182.
9 c Lào Soung (Người Lào Soung sinh sống ở miền núi cao, chủ yếu là người thuộc nhóm Hán-Tạng, H'Mông - Dao) chiếm 10%. Họ có chữ viết, ngôn ngữ và văn hóa riêng.658 người, Lào Soung sinh sống bằng việc làm nương rẫy, chăn nuôi, săn bắt thú rừng tại Luangprabang [30, tr. Dân cư Luangprabang sống trong 12 huyện dược chia thành 752 làng với số dân cư khoảng 426. Tỉnh Luangprabang gồm có 12 huyện như: Luang Prabang, Chomphet, Pak-Ou, Nambak, Ngoi, Nan, Phoukhoun, Phonxai, Xieng Ngeun, Pakxeng, Viengkham và Phonthong.
Trong đó huyện Luang Prabang có số dân đông nhất và phần lớn là dân tộc Lào Lum. Như vậy, với dân số bình quân 25 2 người/ km , Luangprabang là vùng đất rộng, cư dân khá thưa thớt lại gồm nhiều tộc người. Sự phân bố dân cư với đặc điểm của từng vùng đã giúp cho người dân Luangprabang sinh sống bằng những nghề nghiệp phù hợp [31, tr. Nghề nghiệp chính của người dân Luangprabang là làm nghề nông.
Đánh bắt cá cũng là một nghề gắn liền với những người sinh sống ở ven sông từ xa xưa. Người dân ở đây đánh bắt cá để làm thức ăn, buôn bán hoặc để trao đổi hàng hóa. Nghề dệt vải thổ cẩm ở Luangprabang cũng rất nổi tiếng, nhất là người dân tộc ở làng văn hóa Pha Nôm. Họ sáng tạo hoa văn trên vải rất đẹp, hấp dẫn và mang tính độc đáo riêng của Luangprabang [29, tr.
Dân số và mật độ dân số tỉnh Luangprabang năm 2015 TT Huyện, TP Diện tích Dân số Mật độ 2 (người) 2 (km ) (người/km ) 1 TP.556 106 2 Huyện Xieng-Ngeun 1.977 27 4 Huyện Pak-Ou 720 26.484 25 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Luang Prabang 2015 10 c 1. Khái quát về cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Luang Prabang 1. Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt Nam Đối với người nước ngoài, Chính phủ Lào có những quy định được ghi trong Hiến pháp và các văn bản sau: Thứ nhất, Công tác quản lý của chính phủ Lào về mặt nhân khẩu. Thứ hai, quyền của người Việt được hưởng (hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa, được giáo dục…) Trong cộng đồng người Việt tại Lào, luật định của chính phủ Lào quy định rất cụ thể.
Người Việt ở Lào gồm 3 bộ phận: Bộ phận Việt kiều (những người định cư lâu dài ở Lào nhưng chưa có quốc tịch Lào); Bộ phận người Lào gốc Việt; Những người mới đến Lào trong những năm gần đây với nhiều hình thức khác nhau. Người Lào gốc Việt, ước tính toàn Lào có khoảng 20. Về cơ bản họ đã có quốc tịch Lào, gia đình sinh sống tại Lào nhiều nhất đã trải qua 7 thế hệ. Những người Việt sống ở Lào khoảng 3 đời trở lên đã hòa nhập vào xã hội Lào, có cuộc sống ổn định và theo luật pháp, họ được hưởng quyền công dân như những người Lào gốc.
Người Việt nhập quốc tịch Lào được quyền làm việc trong mọi lĩnh vực, họ được quyền sở hữu bất động sản, có giấy phép kinh doanh và con cái được học hành trong chương trình giáo dục tại Lào hoặc nước ngoài [15, tr. Người Việt chưa nhập quốc tịch Lào (Việt kiều), được chính phủ Lào cấp hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân Lào, nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam.