Chương 1: Hiệp định chung về thương mại dich vụ (GATS) và tác động đối với giáo dục đại học của các nước đang phát triển. Chương 2: Thực trạng giáo dục đại học trong bối cảnh Việt Nam cam kết và thực hiện GATS-. Chương 3: Giải pháp phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh Việt Nam cam kết và thực hiện GATS. CHUONG 1: HIỆP ĐỊNH CHUNG VE THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (GATS) VÀ TAC ĐỘNG DOI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CUA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIEN 1.
Khái niệm giáo dục đại học Trong một xã hội đầy ắp những khác biệt, với nhiều hệ tư tưởng và ý kiến đa dạng, cụm từ “giáo dục đại học” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Xét về cấp bậc, giáo đục đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đăng và đại học nhằm giúp sinh viên đạt được một tắm bằng của bậc đại học. Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống — các lĩnh vực chuyên sâu. Có thê nói rằng đại học là “sự hiểu biết ngày càng nhiều hơn về một lĩnh vực ngày càng hẹp hơn”.
Sinh viên được phát triển khả năng tự đặt ra những câu hỏi và tìm kiếm sự thật; khả năng phân tích và phản biện về những vấn đề đương đại. Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ, mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh. Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học: v Giáo dục đại học là một dây chuyển sản xuất mà đầu ra là nguôn nhân lực đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động.
Như vậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp. Y Giáo dục đại học là đào tạo dé trở thành nhà nghiên cứu. Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị dé tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến 8 thức mới. Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tỉnh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng.
v Giáo dục đại học là quan lý việc t6 chức giảng dạy một cách hiệu quả. Rất nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục. Do vậy, các cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên. v Giáo dục đại hoc là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học.
Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội dé người học được tham gia vào qua trình phát triển bản thân bang các thé thức học tập thường xuyên và linh hoạt. Tại Việt Nam, giáo dục đại học được coi là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đăng, đại học và sau đại học, và gồm cả một số cơ sở giáo dục bậc đại học hay cao đăng như các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp. Theo điều 38 Luật Giáo dục 2005, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2009 đã chỉ rõ giáo dục đại học bao gồm: 1.
Đào tạo trình độ cao đăng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề dao tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung hoc phố thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; 2. Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phé thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có băng tốt nghiệp cao đăng cùng chuyên ngành; 9 3. Dao tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; 4. Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bang thạc sĩ.
Trong trường hợp đặc biệt, thời gian dao tạo trình độ tiễn sĩ có thé được kéo dài hoặc rút ngắn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghiên cứu sinh không có điều kiện theo học tập trung liên tục và được cơ sở giáo dục cho phép vẫn phải có đủ lượng thời gian học tập trung theo quy định tại khoản này để hoàn thành chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trong đó có ít nhất một năm theo học tập trung liên tục.” Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc biệt. Như vậy, Giáo dục đại học là dịch vụ giáo dục bậc cao, được tiêu dùng sau khi đã hoàn thành các bậc học thấp hơn như giáo dục tiêu học, giáo dục trung học co SỞ, giáo dục phô thông. Đại học là bậc học mà trong nên kinh tế tri thức hiện đại, các nước nhìn vào đó dé đánh giá sự phát triển giáo duc của một quốc gia.GATS và các quy định cia GATS đối với lĩnh vực giáo dục đại học.
Mục dich và cau trúc của GATS. GATS - Viết tắt của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (General Agreement of Trade in Services) là một Hiệp định thuộc hệ thống WTO ra đời năm 1995, quy định các nguyên tắc về thương mại, dịch vụ. Các nguyên tắc trong Hiệp định này áp dụng bắt buộc đối với tất cả các thành viên trong WTO. Tuy nhiên, đây chỉ là các nguyên tắc chung về thương mại dịch vụ.
Nghĩa vụ cụ thé của mỗi nước thành viên trong việc mở cửa thị trường dịch vụ của nước mình (cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ từ các nước thành viên WTO khác) được nêu trong Biểu cam kết dịch vụ riêng của 10 nước đó (Biểu này là kết quả của đàm phán mở của thị trường dịch vụ của nước đó khi gia nhập WTO). GATS được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu sau đây trong thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO: Y Tạo ra một hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế đáng tin cay; Y Đảm bảo đối xử bình đăng và công băng đối với tat cả các bên tham gia (Nguyên tắc không phân biệt đối xử); + Thúc day các hoạt động kinh tế thông qua việc cam kết chính sách; Y Thúc đây thương mai và phát triển thông qua tự do hóa dan dan (tạo điều kiện dé doanh nghiệp cung cấp dich vụ tiếp cận khách hang dé dang hơn, đặc biệt là khách hàng ở thị trường nước khác) GATS bao gồm 03 nhóm nội dung chính sau: Y Các nguyên tắc và quy định cơ bản điều chỉnh thương mại dịch vụ nói chung; Y Các phụ lục về các điều kiện đặc biệt liên quan đến từng ngành dich vụ cụ thé; Các cam kết tự do hóa đối với từng ngành và phân nganh cụ thé nêu trong Biểu cam kết dịch vụ của từng nước thành viên. GATS chỉ quy định các nghĩa vụ đối với Chính phủ các quốc gia thành viên (GATS không quy định gì về quyền lợi hay nghĩa vụ cho doanh nghiệp). Tuy nhiên, doanh nghiệp lại được hưởng lợi hoặc chịu tác động của Hiệp định này thông qua việc Chính phủ các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ trong GATTS khi ban hành chính sách, quy định về thương mại dịch vụ ở nước mình.
Các nguyên tắc và quy định của GATS. GATS quy định một tập hợp các nghĩa vụ (nguyên tắc) chung ma tat cả các quốc gia thành viên phải tuân thủ: Y Đối xử tối huệ quốc (MEN). 11 Theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc thì là tất cả các đối tác thương mại được đối xử công bằng, theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử. Trong khuôn khô của GATS, nếu một nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải đành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dich vu của tất cả các nước thành viên WTO.
Điều khoản tối huệ quốc được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ, nhưng các nước được phép tạm thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một số ngành đặc biệt. Khi GATS có hiệu lực, một số nước đã ký trước đó với các đối tác thương mại những hiệp định ưu đãi về dịch vụ, trong khuôn khổ song phương hoặc giữa một nhóm nước nhất định. Các cam kết mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia. Các cam kết này được liệt kê lại trong các “danh mục” các ngành sẽ được mở cửa, mức độ mở cửa đối với mỗi ngảnh và các hạn chế có thé có đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (tức khi một số ưu đãi được dành cho các công ty trong nước nhưng không dành cho các công ty nước ngoài).
Ví dụ: nếu cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa, chính phủ một nước nao đó đã đưa ra cam kết về mở cửa thị trường. Nếu chính phủ đó hạn chế số lượng giấy phép được cấp thì đó chính là hạn chế mở cửa thị trường. Cuối cùng, nếu chính phủ đó tuyên bố các ngân hàng nước ngoài chỉ có thé lập một chỉ nhánh duy nhất trong khi các ngân hang trong nước lại có thé lập nhiều chi nhánh thì đó được coi là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia. Y Tính minh bạch.
Theo GATS, các chính phủ phải công bố tất cả các luật, quy định xác đáng và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính của mình. Từ các điểm thông tin này, các công ty và chính phủ nước ngoài có thé lay thông tin liên quan đến các qui định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành 12 dịch vụ khác.