Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. ~ Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT TP Đà Nẵng. ~ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quan tri quan hệ khách hàng trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT TP Đà Nẵng. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1.
Các khái niệm cơ bản và nguồn gốc quản trị quan hệ khách hàng. Các khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng Quản trị quan hệ khách hàng- Customer Relationship Management- CRM được sử dụng như là một giả pháp tối quan trọng trong kinh doanh, nó được coi là điều bắt buộc các NHTM phải thực hiện nếu muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường cạnh tranh và ngày cảng trở nên gay gắt. Trong kinh doanh, các NHTM. đã nhận thấy rằng việc họ cư xử với khách hàng sẽ quyết định tới lợi ích mà họ nhận được trong tương lai.
Vậy nên, các NHTM đã và đang đầu tư ngày càng nhiều vào quan hệ khách hàng để tạo ra được những lợi ích trong dài hạn. Hơn nữa, khách hàng ngày cảng hiểu biết hơn về dịch vụ mà họ nhận được. Họ so sánh, lựa chọn NHTM nảo cung cấp nhiều giá trị lợi ích nhất dựa trên những kinh nghiệm đã có, nhu cầu và vị thế của mình. Do đó CRM là không thể thiếu được đối với NHTM.
Theo Dick Lee, thành viên của câu lạc bộ CRM Guru.com, “CRM là việc thực hiện các chiến lược tập trung vào khách hàng nhằm hướng tới việc thiết kế lại các hoạt động chức năng, khi việc thiết kế lại quá trình là cần thiết và được hỗ trợ bởi công nghệ quản lý quan hệ khách hàng”. Khái niệm coi khách hàng là tiêu điểm mà doanh nghiệp hướng tới thực hiện các chiến lược tập trung, nhằm nắm bắt được nhu. cầu và sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, qua đó thiết kế lại các hoạt động chức. năng, tức là thay đổi từ cái gốc, từ giai đoạn đầu tiên cho đến cả một quá trình, trong chuỗi các hoạt động cung ứng giá trị đáp ứng nhu cầu, mong muốn của khách hàng trên cơ sở sự hỗ trợ của công nghệ quản lý quan hệ khách hàng.
Mei Lin Fung, thành viên của câu lạc bộ CRM Guru.com, cho rằng: “CRM là một siêu tập hợp các mô hình, phương pháp và công nghệ kinh doanh hiện đại quan hệ qua lại lẫn nhau được xây dựng nhằm tạo dựng, duy trì và phát triểm một mối quan hệ tốt đẹp với những khách hàng tiềm năng nhất”. Khái niệm nảy coi trọng các mô hình, phương pháp và công nghệ được sử dụng trong kinh doanh nhằm hướng tới những khách hàng đã được lựa chọn trước, những khách hàng được đánh giá là khách hàng chiến lược, có thể đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp trong. Từ đó doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ lâu dài với những khách hàng tiềm năng nhất này. Qua khái niệm ta thấy CRM được phát triển lên một bước mới thông qua CIMS-Hệ thống Quản lý Thông tin về Khách hàng, bắt nguồn từ thông có được đi đến phân loại, phân hạng khách hàng để từ đó.
hướng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo dựng quan hệ với nhóm khách hàng chiến lược ngy cảng tốt hơn, đảm bảo sự ổn định cho những lợi ích dài hạn của doanh nhiệp.com, một tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động tư vấn về CRM, cho rằng: CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm chọn lọc và quản lý các mối quan hệ đáng giá nhất.CRM đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện một văn hóa, một triết lý kinh doanh lấy Khách hàng làm trung tâm để hỗ trợ có hiệu quả cho các quá trình Marketing, bán hàng và cung cấp dịch vụ. Những ứng dụng CRM có thể đảm bảo việc quản lý quan hệ khách hàng hiệu quả, miễn là doanh nghiệp có sự lãnh đạo sáng suốt, có chiến lược đúng đắn và văn hóa công ty phù hợp. + Theo Tạp chí Nhà kinh tế (The Economist), thì CRM là một nguyên tắc tổ chức bao gồm sự xác định, thu hút và sử dụng các khách hàng đáng giá nhất nhằm. duy trì sự tăng trưởng lợi nhuận.
CRM cũng có thể là quá trình tìm và giữ khách hàng, tối đa hóa lợi nhuận, hành vi và sự thỏa mãn của ho. + Với mỗi định nghĩa CRM khác nhau thì cách thức thực hiện và chiến lược triển khai CRM cũng khác nhau. Nhưng nhiều chuyên gia đã nhất trí coi định nghĩa sau về CRM như một định nghĩa cơ bản và tác giả cũng đồng ý với nhận định này: “ Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lược kinh doanh hướng vào việc tìm kiếm, chọn lựa và duy trì quan hệ với những khách hàng có giá trị nhất”. Ngày nay, định nghĩa về CRM đang dần được mở rộng bao hàm nhiều khía cạnh trong quan hệ khách hàng.
Tuy nhiên, các hệ thống dịch vụ và dữ liệu khác vẫn đóng vai trò then chốt. Chúng dẫn đường trong việc tiếp cận với thông tin về khách hàng. Các dạng thức hoạt động mới của CRM vẫn xoay quanh những phản ứng của khách hàng. Những phần mềm và dịch vụ mới quản lý, khuyến khích và đánh giá cao các nguồn thông tin về phản ứng và thương mại.
Nguồn gốc của Quản trị quan hệ khách hàng Vào cuối những năm 1960, Ted Levitt cho muc tiéu kinh doanh là “ Tao va giữ khách hàng”. Theo ông, các công ty hiện đại nên xem * Toàn bộ quá trình kinh doanh gồm sự nỗ lực tích hợp kín để khám phá, tạo, đánh thức và thỏa mãn các nhu cầu khách hàng”. Từ triển vọng lạc quan về công nghệ, có thể nói, nền thương mại CRM đã được khởi động từ giữa những năm 1980. Đó là khi các công ty lớn như Oracle và Sybase bắt đầu giới thiệu những cơ sở dữ liệu có khả năng quản lý hồ sơ và các thông tin về khách hàng.
Song họ lại thiếu công cụ chuyên sâu đề có thể sử dụng tốt nhất những cơ sở dữ liệu đó. Đầu thập kỷ 90, các công ty như Siebel và Brock Control System đã tiên phong trong việc phô biến công nghệ bán hàng tự động. Họ áp dụng kiến thức chuyên sâu ~ đó là phương thức bán hàng vào những cơ sở dữ liệu đó. Trong giới học thuật và các hãng tư vấn của Mỹ với những tên tuổi như tiến sĩ Jagdish Sheth của trường kinh doanh Goizeta, Đại Học Emory ( Atlanta), Jim Bessen của công ty Intergraph ( trong bài báo đăng trên tạp chí Harvard Business Review - HBR số tháng 9 và 10 năm 1993) hoặc Hugh Bishop của công ty Aberdeen cũng đã xuất hiện những thông tin về CRM.
CRM là sự phát triển tiếp theo của các hệ thống như Hệ Thống Tự Động Hóa Bán Hàng (Sales Force Automation - SEA). Mục đích của SFA là cung cấp cho lực lượng bán hàng những thông tin về khách hàng thu thập tại các bộ phận khác. tiếp thu các thành công của SFA và mở rộng khái niệm ra rộng hơn lêu so với SFA. Cũng trong thời gian đó, nhóm các công ty như Vantive, Clairfy và Scopus đã phát triển những hệ thống mới có khả năng giúp cho các hãng cung cấp dịch vụ phục vụ một cách tốt hơn khách hàng của mình.
Một lần nữa, họ cũng ứng dụng những kiến thức chuyên sâu về cung cấp và bảo dưỡng vào trong các cơ sở dữ liệu. về khách hàng đó. Sự tự động hóa marketing tuy xuất hiện sau nhưng cũng đóng góp một cách tự nhiên cho các nỗ lực để tự động hóa việc bán hàng và cung cấp dịch vụ. Một vấn đề cấp thiết đặt ra là các chuyên gia cần suy ngẫm về phương thức thống nhất các quan niệm và hoạt động rời rạc này lại.
Tắt nhiên, những khuynh hướng mang tính công nghệ này cũng đặt ra trong sự tương xứng với những khuynh hướng vẻ lý thuyết quản lý. Các nhà lãnh đạo như Don Peppers, Martha Rogers, Fred Reichheld, Regis Mckenna, Fred Wiersema, John Hagel và Joe Pine cũng đã cống hiến rất nhiều dé phổ biến sự trung thành của khách hàng, cá nhân hóa, khách hàng hóa nói chung. Họ nắm giữ những bí quyết và triển vọng về quản lý khách hàng và làm cho chúng ngày càng trở nên phổ biến trong thị trường ý tưởng. Và những ý tưởng đó lại dẫn đến các kết quả.
Từ năm 1998 khi thuật ngữ * Quản trị quan hệ khách hàng” viết tắt là CRM trở thành thời thượng — các công ty bắt đầu thay tên đổi họ cho các hoạt động kinh doanh của mình. Các nhà phân tích trong lĩnh vực công nghiệp đã nêu lên tính cần thiết của một “ cơ sở dữ liệu khách hàng thống nhất” - nhờ đó, những người trong lĩnh vực bán hàng, marketing và cung cấp dịch vụ có thể trao đồi thông tin về khách. hàng với nhau một cách dễ dàng. Tuy nhiên, đó cũng chưa thực sự đủ để gắn kết các kho dữ liệu.
lệc thống nhất tổ chức cũng rất cần thiết, đặc biệt là giữa các nhóm khác nhau trong bộ phận cung cấp dịch vụ. Việc liên kết mang tính tổ chức và thông tin là những điểm then chốt đối với tương lai của CRM và sớm trở thành mục tiêu trọng yếu. Ngày nay, các tổ chức trên thế giới đang xem xét CRM một cách hăng hái. CRM phô trương trên thị trường mở bằng các ứng dụng phần mềm và kỹ thuật mới.
Mục đích và lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng 1. Mục đích của quản trị quan hệ khách hàng CRM khởi nguyên từ ý tưởng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực ( nhân lực và công nghệ) để hiểu thấu đáo về thái độ, thói quen của khách hàng và đánh giá giá trị của từng phân đoạn khách hảng riêng biệt. Với sự trợ giúp của một chương trình CRM có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể: + Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tốt hơn. + Nâng cao hiệu quả của trung tâm hỗ trợ khách hàng.
+ Trợ giúp nhân viên bán hàng thực hiện đơn hàng một cách nhanh nhất. + Đơn giản hóa tiến trình tiếp thị và bán hàng. + Phát hiện các khách hàng mới. + Tăng doanh thu từ khách hàng.
Lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng với khách hàng: CRM góp phần thúc đây mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và doanh nghiệp, giúp khách hàng hiểu rõ hơn về doanh nghiệp, được phục vụ chu đáo hơn, khách hàng cảm thấy được quan tâm hơn.