Chương 1: Lý luận về phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản để phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Gia Lai ll CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN CÔ! CHE BIEN NONG SAN 1. Vj tri, vai trò và đặc điểm trong phát triển công nghiệp chế biến nông sản 1. Một số khái nigm (8, tr.
147-148] ~ Công nghiệp là một bộ phận của nên kinh tế, là lĩnh vực sản xuất vật chất mà sản phâm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đây mạnh mẽ của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công_ nghệ. Theo cách phân loại của Tông Cục thống kê, công nghiệp bao gồm ba nhóm ngành: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện - khí - nước. * Công nghiệp khai thác là ngành khai thác các tài nguyên thiên nhiên: bao gồm các nguồn năng lượng (dầu mỏ, khí đốt, than.), quặng kim loại (sắt, thiết, boxit), vật liệu xây dựng (đá, sỏi, cát.
Ngành này cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác. * Công nghiệp chế bao gồm các công nghiệp chế tạo các công cụ sản xuất (chế tạo máy, cơ khí, kỹ thuật điện và điện tử), công nghệ sản xuất vật phẩm tiêu dùng (đệt - may, chế biến thực phâm - đồ uống, chế biến gỗ giấy, chế biến thủy. tỉnh - sành sứ) và công nghiệp sản xuất đối tượng lao động (hóa chất, hóa dầu, luyện kim và vật liệu xây dựng). * Công nghiệp điện - khí - nước: bao gồm các ngành sản xuất và phân phối các nguồn điện (thủy điện và nhiệt điện), gas — khí đốt và nước.
~ Phát triển Công nghiệp: [36, tr. Khái niệm tăng trướng kinh tế: Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, xăng /rướng kinh rể là một phạm trù kinh tế diễn tả 12 động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia. Là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/ng) qua một thời gian nhất định, thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng. Khái niệm phát triển kinh tế: Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển kinh rế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm đăng frưởng kinh tế.
Nêu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học ~ kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hộ Khái niệm phát triển công nghiệp: Phát triển công nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền công nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường. đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất. Phát triển công nghiệp khác với tăng trưởng công nghiệp: Tăng trưởng công. nghiệp chỉ thể hiện rằng ở thời điểm nào đó, nền công nghiệp có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế và tập trung nhiều về mặt lượng.
Tăng trưởng công nghiệp thường được đo bằng mức tăng thu nhập quốc dân trong nước của công nghiệp, mức tăng về sản lượng và sản phẩm công nghiệp, số lượng doanh nghiệp, chủng loại sản phẩm, quy mô thị trường. Còn phát triển công. nghiệp thể hiện cả về lượng và về chất. Phát triển công nghiệp không những bao.
hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đôi cơ bản trong cơ cấu công nghiệp, 13 về trình độ sản xuất và tô chức xã hội của sản xuất, sự thích ứng của công nghiệp với hoàn cảnh mới. ~ Phát triển Công nghiệp chế biến nông sản: Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội cho thấy sự hình thành và phát triển công nghiệp chế biến (CNCB) gắn với phân công lao động xã hội dưới tác đông của sự phát triển lực lượng sản xuất (LLSX). Phân công lao động xã hội đã phân chia nền sản xuất xã hội thành nhiều ngành nghề khác nhau, thúc đây sản xuất hàng hóa phát t Sản xuất hàng hóa càng phát triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, nó diễn ra ngay trong nội bộ từng ngành sản xuất, hình thành những. ngành kinh tế độc lập.
CNCB hình thành và phát triển do sự phân công trong nội bộ ngành công nghiệp. Trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga" Lênin đã chỉ rõ "Sự phân công lao động xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa. Công nghiệp chế biến tách khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia thành nhiều loại nhỏ, chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hóa, những sản phẩm đặc biệt và đem trao đổi với tất cả các ngành sản xuất khác"[63, tr. 22] Ngày nay, trong điều in khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường phát triển cao thì CNCB càng phát triển với nhiều ngành nghề, lĩnh vực đa dạng phong phú, sản xuất nhiều chủng loại hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống.
CNCB vì vậy ngày cảng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là các nước đang phát t đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp như nước ta. Ở nhiều nước loại này, do biết quan tâm và có chính sách, chiến lược phát triển CNCB đúng đắn, phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại mà chỉ trong một thời gian ngắn đã đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế - xã hội ồn định và phát triển với tốc độ cao. Ở nước ta, ngay từ những năm cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc, CNCB cũng đã được quan tâm xây dựng. Nghị định 37/CP ngày 14 13/3/1974 của Hội đồng Chính phủ đã phân chia công nghiệp nước ta thành 9 ngành cụ thể để từ đó có chính sách, biện pháp đầu tư, phát triển phù hợp với từng ngành.
Các ngành công nghiệp cụ thể đó là: Công nghiệp năng lượng. khai thác chế iên nguyên liệu; Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp chế tạo và sửa chữa thiết bị may móc và sản phẩm bằng kim loại; Công nghiệp hóa chất; Công nghiệp vật liệu xây dựng, sành, sứ, thủy tỉnh, đá, gỗ và lâm sản; Công nghiệp lương thực, thực phẩm; Công nghiệp dệt, da, may mặc; Công nghiệp in và sản xuất các loại văn hóa phẩm; Công nghiệp khác. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nên việc phân loại các ngành kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng đã được xác định lại theo. quan điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý và phủ hợp với sự phân chia theo tiêu chuẩn chung của quốc tế.
Chính phủ đã ra Nghị định 75/CP, ban hành hệ thống. ngành kinh tế quốc dân cấp I và Tổng cục Thống kê ra Quyết định 143/TCTK ngày 22/12/1993 hướng dẫn thi hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân cấp II, II, IV. Theo cách phân loại mới này, các ngành công nghiệp nước ta được chia thành 4 nhóm: Công nghiệp khai thác mỏ; Công nghiệp chế biến; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước; Công nghiệp xây dựng [33, tr. Với cách phân loại theo hai văn bản của Chính phủ và Tổng cục Thống kê nêu trên, ta thấy CNCB là ngành kinh tế - kỹ thuật độc lập, là một trong 4 nhóm ngành của công nghiệp.
Bản thân CNCB lại bao gồm nhiều nhóm ngành khác nhau nữa, như: Công nghiệp lương. thực - thực phẩt Công nghiệp dệt và may mặc; Công nghiệp đồ ; Công nghiệp sản xuất giấy và in; Công nghiệp hóa : Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp chế iến các khoáng sản không phải kim loại v. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007, Hệ thống Ngành kinh tế của Việt Nam phân loại ngành theo tiêu chuân quốc tế (ISIC - International Standard Industrial Classification). Theo hé théng nay, các phân ngành công nghiệp được mã hoá theo cấp 3, 4, 5 chữ số ở mức độ chỉ tiết hơn, gồm ba ngành lớn: công nghiệp khai khoáng (Minning); công nghiệp chế biến, 15 chế tao (Manufacturing); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt.
Cách phân loại này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của từng lĩnh vực phát triển công nghiệp. Trong đó, khu vực công nghiệp chế biến bao gồm rất nhiều phân ngành công nghiệp khác nhau (xem Bang 1). Hệ thống ngành kinh tế tủa Việt Nam C CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO 10 Sản xuất chế biên thực phâm. 101 1010 Chế biên, bảo quản thịt và các sản phâm từ thịt 10101 in va đóng hộp thịt 10109 “Chê biên và bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt khác Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phâm từ thuỷ.
102 1020 sản 10201 Chế biến và đóng hộp thuỷ sản. 10202 n và bảo quản thuỷ sản đông lạnh: 10203 “Chế biến và bảo quản thuỷ sản khô. 10204 n và bảo quản nước mắm 10209 n, bảo quản thuỷ sản v c sản phẩm từ thuỷ sản khác 103 1030 Chế biến và bảo quản rau quả. 10301 Chế biến và đóng hộp rau quả 10309 Chế biên và bảo quản rau quả khác 104 1040 Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật 10401 Sản xuất và đóng hộp dâu, mỡ động, thực vật 10409 Chế biến và bảo quản dâu mỡ khác 105 1050 10500 sản phâm từ sữa.
106 Xay xát và sản xuất bột 1061 Xay xát và sản xuất bột thô.