CHƯƠNG I TONG QUAN VỀ DI CƯ NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ VA CAC NHAN TO ANH HƯỚNG 1. Một số vấn đề chung về di cư, di cư nông thôn-đô thị 1. Khái niệm chung vé di cw, di cư nông thôn - đô thị Theo từ điển Bách khoa toàn thư năm 2017 Đi cư (Sự di cư của người) là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm, asười để tìm chỗở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc © Di cu ra nước ngoài (Di cư quốc tế): “Là sự di chuyển ra ngoài biên giới của một quốc gia.
Người di cư di dời từ nước này sang nước khác để lao động, học tập, cư trú, tái định cư hoặc nhằm tránh sự trừng phạt, ép buộc hoặc cưỡng bức di cư”. ©_ Di eư trong nước (Di cư nội địa): "Là sự di chuyển bên trong biên giới của một quốc gia với thời gian lâu đài hoặc tạm thi, bao gồm 4 hình thức di cu: Nong thôn - Nông thôn (NT-NT); Thành thị - Thành thị (TT-TT); Nông thôn- Thành thị (NT-TT); Thành thị - Nông thôn (TT-NT)”. 'Như vậy, di cư là sự di chuyển dân số về không gian, từ một đơn vị hành chính này, đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo những thay đổi nơi cư trú tại đơn vị hành chính mới. Dĩ cư đòi hỏi có sự thay đổi nơi cư trú trong một thời gian nhất định và sự đi chuyển đó phải vượt qua ranh giới hành chính đã được xác định về mặt pháp lý.
Có thể tóm tắt khái niệm di cư: Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bắt kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự đi đông dân cư. Theo nghĩa hẹp, di cư là sự đi chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến. một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định.
Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới. Di cự là sự chuyển địch của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Nói cách khác, di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển. dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định.
Di cư có thể liên quan đến sự di chuyển của một hay cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một công đồng, Như vậy, có khá nhiều khái niệm về di cư được đưa ra ở cả trong và ngoài nước, tuy nhiên trong giới hạn của Luận văn nay tác giã đưa ra khái niệm ddi cư đã được sử dụng rộng rãi trong các cuộc Tống điều tra Dân số ở Việt Nam từ năm 1999 đến nay như sau: Khái niệm di cư sử dụng trong luận văn Di cư là sự thay nơi đổi cư trú của con người, từ đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói cách khác là thay đổi nơi cư trú trong một khoảng thời gian nào đó. Một người được xác định là di cư phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Thứ. nhất có sự di chuyển thay đổi nơi cư trú thường xuyên từ đơn vị lãnh thổ này tới lãnh thổ khác.
Thứ bai, quy định về khoảng thời gian xảy ra sự di chuyển © Thay déi noi cu trú: Một người được thay đổi nơi cư trú, nếu nơi thực tế thường trú tại thời điểm điều tra và nơi thực tế thường trú 5 năm trước thời điểm điều tra không cùng một đơn vị hành chính cấp xã' (gọi là xã). ˆ Đơn vị hành chính cấp xã gồm: xã, phường và thị rắn. Lưu ý rằng, tại thời điểm điều tra một người vẫn thực tế thường trú trong. phạm vi của một đơn vị hành chính cấp xã, có thay đối tên gọi (từ xã thành phường hoặc thị rin, và ngược lại) so với Š năm trước, không được coi là người di cư.
“Tổng điều tra không thể thu thập được số liệu di cư thực tế mà chỉ là số liệu. di cu qua các đường ranh giới hành chính quy định. ©_ Khoảng thời gian: Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, 2009 và Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014 thu thập các thông tin về di cư thông. qua câu hỏi về nơi thực tế thường trú 5 năm trước thời điểm điều tra đối với những.
người từ 5 tuổi trở lên. Mục tiêu chính là thu thập thông tin về di cư trong nước. Khái niệm đô thị Đô thị là khu tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao chủ yếu hoạt động. trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của.
thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trắn (luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12). Đô thị hóa là quá trình tăng tỷ lệ dân số thành thị so với quy mô dân số các thành phố và sự lan tỏa lối sống thành thị về nông thôn. Theo khái niệm của ngành. địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ đân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian.
'Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm: () Do quá trình tăng tự nhiên của dân số hiện có. Thông thường quá trình này không phải là tác nhân vì tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên của vùng đô thị thường thấp hơn so với nông thôn; Gi) Do mỡ rông địa giới khu vực đô thị, các đô thị mới được thiết lập theo. các chính sách của Nha nude; (ii) Do sự chuyển địch dân cư từ nông thôn ra thành thị, ‘Dé thi hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô. thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng, một khu vực hoặc quốc gia.
Đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, hoặc mật độ dân cur, hoặc hoạt động thương mại, hoặc các hoạt động khác trong một khu vực nhất định theo thời gian. Quá trình đô thị hóa có thể điễn ra thông qua sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc sự phát triển tự nhiền của dân cư hiện có. ‘Tuy nhiên, trong thực tế quá trình đô thị hóa tại các quốc gia đang phát triển chủ yếu là thông qua quá trình chuyển dịch dẫn cư vì quá trình phát triển dân cư tự nhiên thường không mạnh, do mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thấp hơn nông thôn.Có thể nói rằng quá trình di cư từ nông thôn vào thành thị là tiền đề, đồng thời cũng là hệ quả tắt yếu của quá trình đô thị hóa. Nếu không có su di eur, quá trìnhđô thị hóa sẽ diễn ra rit cham chap.
“Khái niệm di cư nông thôn = đô thị của luận văn: Di cư nông thôn - đô thị là sự di chuyển của con người từ một đơn vị hành chính là xã đến một đơn vị hành chính khác là phường/thị trắn trong một khoảng thời gian nhất định. = Khoảng thời gian nhất định: $ năm trước thời điểm Tổng điều tra dân số. 'Ví dụ: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, khoảng thời gian xác định người di cư nông thôn - đô thị là cách thời điểm 1/4/2009 là S năm, tức là thời điểm 1/4/2004. ~ _ Ở nước ta, việc phân định thành thị, nông thôn được dựa vào đơn vị hành chính cơ sở với “phường” và "thị trấn” thuộc thành thị, còn “xã” thuộc nông thôn.
*Phường”, "thị trấn” hay “xã” phải được xác định tại thời điểm cách thời điểm điều tra 5 năm. Những nơi tại thời điểm cách thời điểm điều tra S năm là “xã”, đến thời điểm điều tra nơi này được công nhận là “phường” hay "thị trắn” thì phải xác định nơi này là “xã”. Việc phân định này ảnh hưởng đến luồng di cư nông thôn ~ thành thị (nông thôn - đô thị). Các tiêu chuẩn để xác định di cư, di cư nông thôn - đô thị.
Người di cư đi chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống. Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoáng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển). Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó. Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan trong để xác định di cư.
Khoảng thời gian có thễ là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, S năm hoặc thậm chí 10 năm tùy thuộc quy định của từng quốc gia. Tương tự ranh giới hành chính để xác định đi cư nông thôn-đô thị có thể là xã/phường, huyện/quận, tinh/thành phố hoặc. vùng, Như vậy, di cư bao gồm ít nhất hai điều kiện: + Sự di chuyển phải vượt qua ranh giới hành chính đã được xác định. + Thay đổi nơi cư trú thường xuyên trong một thời gian nhất định “Trong Luận văn này, tác giả sử dụng bộ số liệu di cư của TĐTDSNO năm 1999, 2009 và ĐTDSNOGK năm 2014, người di cự nông thôn đô thị thỏa mãn: ~ Sự di chuyển vượt qua ranh giới từ “xã” này đến “phường/thị tắn trong.
cùng huyện, hoặc khác huyện, hoặc khác tỉnh. ~ Thời gian thay đổi cư trú thường xuyên là 5 năm trước thời điểm điều tra. Để hiểu rõ khái niệm đi cư chúng ta cần xem xét khái niệm này dưới nhiều cách tiếp cận, đánh giá bằng nhiều tiêu chuẩn: ~ Tiêu chuẩn không gian “Trước tiên, di cự phải là sự di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác, 'vượt qua một ranh giới hành chính nào đó. Thông thường người ta coi địa điểm đó.
là một đơn vị hành chính. Ở Việt Nam có các cấp hành chính: Trung ương, tỉnh (thành phố), huyện. (quận), xã (xã, phường, thị trấn) “Theo tiêu chuẩn không gian, có thể xảy ra di cư giữa các xã, giữa các huyện, giữa các tỉnh hoặc giữa các vùng.