CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE BAT BINH DANG THU NHAP CUA DAN CƯ 'Với sự vươn lên không ngừng mọi mặt của xã hội làm cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn thì bên cạnh đó xã hội cũng an chứa vô số những bắt cập xã hội - những vấn đề gây ra ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người. Bất bình đẳng xã hội là một trong những vấn đề như vậy. Bắt bình đẳng là sự không công bằng, không giống nhau về cơ hội hoặc các lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm xã hội hoặc trong nhiều nhóm xã hội. Bất bình đảng xã hội bao gồm: bắt bình đăng giới tính, bắt bình đẳng.
kinh tế, bắt ¡nh đẳng cơ hội (vẻ y tế, giáo dục, việc làm,.), trong đó bất bình đẳng. kinh tế không chỉ ảnh hưởng rắt lớn đến xã hội mà còn có thể gây trở ngại đến tăng trưởng kinh tế. Bất bình đẳng kinh tế (còn gọi là khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng thu nhập) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối các tài sản hay thu nhập. Để nghiên cứu tổng quan về bất bình đẳng thu nhập của dân cư, chúng ta trước hết cần hiểu rõ về thu nhập, nguồn gốc và mối quan hệ của thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng đến bắt bình đẳng thu nhập.
Thu nhập của dân cư 1. Khái niệm về thu nhập của dân cư Cùng với sản xuất và tiêu dùng, phân phối là một trong những phạm trù kinh tế chung nhất của xã hội loài người. Với tư cách như vậy, phân phối theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là hoạt động chia các yếu tố sản xuất, các nguồn lực đầu vào trong một quá trình sản xuất và chia các kết quả sản xuất, các sản phẩm đầu ra trong quá trình tái sản xuất xã hội. Trong đó, phân phối các yếu tố đầu vào và sản pham đầu ra có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.
Phân phối thu nhập. là một bộ phận của phân phối, gắn liền với sự phân phối sản phẩm đầu ra được biểu hiện dưới các hình thái thu nhập. Thực tiễn cho thấy phân phối thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong mọi xã hội cũng như trong mọi hình thái kinh tế vì phân phối thu nhập hỗ trợ cho tiêu dùng và quá trình tái sản xuất, đảm bảo cho sự tồn tại của loài người Xét theo chiều dài lịch sử, mặc dù cụm từ “phân phối” lần đầu tiên được dua vào sử dụng trong lý thuyết kinh tế bởi Francois Quesnay và một số nhà kinh tế trọng nông Pháp từ những năm 1750 nhưng những vấn đề lý luận về phân phối thu nhập chỉ thực sự xuất hiện sau công trình Wealth of Nations (1776) của Adam Smith và được hệ thống thành một lý thuyết phân phối thu nhập với David Ricardo (1817). Từ đó đến nay, lý thuyết phân phối thu nhập đã không ngừng phát triển với sự đóng góp, bỗ sung, hoàn thiện của các học giả, các nhà kinh tế trên thé giới Phần sản phẩm xã hội mới được tạo ra trong một thời gian nhất định, và khi chúng được chuyểi ến người tiếp nhận thì hình thành nên thu nhập cho người tiếp nhận.
Thu nhập có thể được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Người tiếp nhận thu nhập là những tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thông qua quá trình phân phối mà nhận được thu nhập, ví dụ như lao động bỏ sức lao động ra làm việc để nhận được tiền lương, chủ tư bản bỏ vốn kinh doanh nhận được lợi nhuận,. Tuy nhiên, trong trường hợp nhà nước phúc lợi, một nhóm người có thẻ nhận được thu nhập do nhà nước cắp cho dưới dạng trợ cắp, bảo hiểm y tế Như vậy, thu nhập của dân cư là tắt cả các khoản thu nhập (biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị) trong 1 thời gian nhất định từ tiền công, đầu tr và các khoản khác, nó là tập hợp của tắt cả các thu nhập thực nhận bởi các cá nhân hoặc hộ gia đình. “Theo Tổng cục Thống kê, để phản ánh thu nhập của dân cư thường dùng các chỉ tiêu thống kê: Thu nhập lần đầu, thu nhập do phân phối lại (thu nhập do chuyên nhượng), tổng thu nhập, thu nhập khả dụng (thu nhập cuối cùng), thu nhập bình quân đầu người | thang.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (khái niệm và công thức tính được trình bày ở chương 2) để đánh giá thực trạng và phân tích 1. Nguồn gốc của thu nhập Thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội là khác nhau về số lượng và nguồn gốc tùy thuộc vào ngành nghề họ hoạt động. Tuy nhiên tông hợp chung lại, nguồn gốc của thu nhập bao gồm: ~ Thu nhập từ tiền lương, tiền công. ~ Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất); ~ Thu nhập từ sản xuất phi nông, lâm nghiệp và thủy sản bao gồm: công ng „ xây dựng, thương nghiệp, dịch vụ (sau khi đã trừ đi chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất) - Thu nhập hợp pháp khác được tính vào thu nhập.
Các khoản thu không được tính vào thu nhập gồm rút tiền gửi tiết kiệm, thu nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh. Bất bình đẳng thu nhập của dân cư 1. Khái niệm về bắt bình đẳng thu nhập của dân cư Trong Số tay về Nghèo đói và Bat binh ding (Handbook on Poverty and Inequality) của World Bank năm 2009, Haughton và Khandker đã chỉ ra bắt bình đẳng thu nhập là một khái niệm đi liền với nghèo đói và có nội hàm rộng hơn khái niệm nghèo đói. Khi nói đến nghèo đói, mối quan tâm thường tập trung vào mức thu nhập hoặc chỉ tiêu bình quân đầu người của nhóm nằm ở cuối bên phía trái của phân phối, trong khi đó bắt bình đẳng quan tâm tới phân phối thu nhập của toàn bộ dân sô.
Bất bình đăng là một khái niệm liên quan đến phân phối thu nhập - một trong bốn khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đồi và tiêu dùng). Có hai loại cơ bản liên quan tới phân phối thu nhập là: phân phối theo quy mô (hay theo cá nhân), và phân phối theo chức năng. Phân phối theo quy mô xem xét thu nhập giữa các hộ gia đình hay các cá nhân được phân phối như thế nào. Mối quan tâm chính trong loại này là mức thu nhập mỗi cá nhân nhận được là bao nhiêu mà không quan tâm tới nguồn gốc của thu nhập, bắt kể đó là tiền lương, tiền công.
Còn phân phối theo chức năng đề cập tới sự phân phối thu nhập theo nhân tố sản xuất, chẳng hạn việc xem xét các tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc dân được phân phối cho lao động, cho tiền làm công, làm thuê, lợi tức, lợi nhuận. “Trong phân phối theo quy mô, tính công bằng về thu nhập được hiểu là các cá nhân được hưởng thu nhập đúng với công sức mà họ bỏ ra, với ý nghĩa nhằm loại bỏ tình trạng có cá nhân lao động vắt vả mà vẫn có cuộc \g khó khăn, thiếu thốn. Phân phối thu nhập công bằng không đồng nghĩa với chủ nghĩa bình quân về thu nhập ở cách hiểu mọi người nhận mức thu nhập giống nhau bắt kể năng lực và đóng góp. Phân phối thu nhập công bằng và chủ nghĩa bình quân về thu nhập chỉ có thể đồng nghĩa với nhau trong trường hợp đặc biệt khi mọi cá nhân trong xã hội là hoàn toàn đồng nhất, tức giống nhau về mọi đặc điểm.
Như vậy, bắt bình đẳng thu nhập là khái niệm đề cập hiện tượng thu nhập được phân phối không đồng đều giữa các cá nhân, hoặc hộ gia đình trong xã hội. Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong luận văn này. Nguyên nhân bắt bình đẳng thu nhập của dân cư Việt Nam Bắt bình đảng thu nhập (chênh lệch thu nhập) và sự gia tăng bất bình đăng thu nhập ở Việt Nam bắt nguồn từ các nhân tố mang tính đặc trưng của dân số (nhân khẩu, lao động, giới tính.); sự khác biệt về địa lý; sự khác biệt các động lực về tăng trưởng nông, lâm nghiệp, thủy sản và phi nông, lâm nghiệp, thủy sản giữa các vùng; những thay đổi tham gia mô hình sản xuất kinh doanh nông, lâm nghiệp, thủy sản và phi nông, lâm nghiệp, thủy sản; và từ công việc đòi hỏi tay nghề thấp đến cao. Sau đây là các nguyên nhân dẫn tới gia tăng bắt bình đẳng thu nhập ở Việt Nam: ~ Thứ nhất là, xuất phát từ nền kinh tế thị trường.
Việt Nam đã và đang xác lập và hoàn thiện nền kinh tế thị trường, trong đó có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế nhiều thành phần và sản xuất hàng hóa thì sự phân hóa giàu nghèo (ít nhất là giữa lao động làm thuê, người chủ sản xuất, lao động. trong các doanh nghiệp nước ngoài và Việt Nam.) là một hiện tượng khách quan tắt yếu. Nguyên nhân trực tiếp của nó là do chênh lệch thu nhập của những người lao động khác nhau. ~ Thứ hai là, bắt nguồn từ quy luật phát triển không đều giữa các vùng do điều kiện địa lý, phương thức sản xuất, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống khác nhau đã ảnh hưởng đến kết quả lao động khác nhau và thu nhập nhận được của người lao động cũng khác nhau.
~ Thứ ba là, mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bé nguồn lực là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến việc tạo lập công bằng xã hội. ~ Thứ tư là, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng. ~ Thứ năm là, điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt phát triển kinh tế, cũng như bắt bình đẳng thu nhập giữa các vùng, giữa các tỉnh, thành phó trực thuộc trung ương. - Thứ sáu là, phân bố dân cư khác nhau.
Những vùng có mật độ dân cư thưa thớt, quy mô dân số nhỏ có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn so với những vùng, có mật độ dân cư cao về quy mô dân số đông. ~ Thứ bảy là, trình độ người lao động gồm trình độ học vấn và trình độ thực hành nghề. Trình độ người lao động là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng. nguồn nhân lực.
Lao động có chất lượng cao hơn thì có khả năng và có thu nhập cao.