CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GAN KET SAN PHAM 'VÀ TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU 1.1 Sl’ GAN KET (INVOLVEMENT) 1.1 Khái niệm về sự gắn kết “Trước đây khi nói đến hành vi người tiêu dùng, nghiên cứu vẻ thái độ thường chiếm ưu thế, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây, các nhà khoa học dành phần lớn sự quan tâm cho nhân tố gắn kết trong việc lí giải hành vi khách hàng. Năm 1965, Krugman lần đầu tiên giới thiệu lí thuyết về sự gắn kết với sản phẩm, trong đó ông nhắn mạnh gắn kết là sự “quan tâm ” và mức độ “nhiệt tinh” ma người tiêu dùng dành cho một sản phẩm nhất định. Theo ông, chính hai yếu tô này đã làm thay đổi hành vi của ngưi tiêu dùng: người nào có mức độ “quan tâm” và “nhiệt tình” cao (hay mức độ gắn kết cao) sẽ tăng cường việc tìm kiếm thông tin hơn người tiêu dùng có mức độ gắn kết thấp hay mức độ gắn kết ảnh hưởng đến nhận thức của người tiêu dùng. Điều này cũng góp phần giải thích có khách hàng.
mua sản phẩm sau khi cân nhắc, lựa chọn kĩ cảng nhưng cũng có khách hàng đưa ra quyết định mua nhanh chóng, ít tìm kiếm thông tin hay bỏ qua các chương trình truyền thông giới thiệu sản phẩm. Ngoài ra Krugman còn nghiên cứu mối quan hệ giữa gắn kết sản phẩm với truyền thông marketing, đặc biệt là các thông điệp quảng cáo. Trong đó ông nhắn mạnh mối liên hệ này thể hiện bằng những liên tưởng, kết nối và ưu tiên cá nhân mà người tiêu dùng nhận thức được dựa vào sự khác biệt giữa trạng thái lên tại (trạng thái người tiêu dùng đang trải qua) và trạng thái lí tưởng (trạng thái mong muốn đạt đến). Cuối cùng, ông nhận thấy người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các.
phương tiện truyền thông đại chúng theo hai hướng: Thứ nhất, người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi truyền thông đại chúng nhưng mức độ gắn kết thấp với sản phẩm thấp. Đối với sản phẩm có giá trị thấp (ví dụ như mua dầu gội đầu, bột giặt, bột ngot.), tần suất mua lặp đi lặp lại nhiều lần hay mức độ rủi ro thấp thì mức độ gắn. kết của người tiêu dùng cũng thấp, do vậy, quảng cáo lặp đi lặp lại sẽ giúp thay đôi hành vi người tiêu dùng. Trong trường hợp này, quảng cáo nhiều lần sẽ tác động, giúp người tiêu dùng nhớ sản phẩm một cách vô thức, và khi có nhu cầu, họ sẽ nhớ.
đến sản phẩm trong bộ nhớ đầu tiên. Cách thứ hai, người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông. đại chúng và có gắn kết mức độ gắn kết cao. Do sản phẩm có giá trị cao, rủi ro lớn hay tần suất mua lặp lại thấp (ví dụ mua ô tô mới, đăng ký một chuyến di du lịch dai ngày ở Châu Âu, chọn trường học cho con.), khi mua sản phẩm, người tiêu dùng rất thận trọng và thường tìm hiểu thông tin kĩ càng trước khi ra quyết định.
Do vậy, khi xem quảng cáo, những khách hàng này sẽ tỉnh táo phán xét về độ chính xác của thông tin, sức hấp dẫn của ý tưởng. truyền thông, độ tin cây. Chính những yếu tố sáng tạo, khác biệt và tạo ấn tượng mạnh sẽ góp phần hình thành thái độ và thay đổi hành vi mua. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa gắn kết sản phẩm và quảng cáo của Krugman.
(1965) đã nhận được rất nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu khác, trong đó có. Bowen và Chaffee (1974). Hai ông cho rằng gắn kết sản phẩm là sự phát triển về nhận thức (được thể hiện rõ ra bên ngoài hoặc dưới dạng tiềm ẩn) của người tiêu dùng, dựa trên những quan tâm và đánh giả của họ đổi với sản phẩm. Khi người tiêu dùng có mức độ gắn kết cao (mua sản phẩm giá i cao, rủi ro nhiều như ô tô, trang sức, hàng điện tử,.) sẽ có những đánh giá kĩ càng về nhận thức và cảm xúc trước khi mua.
Ngược lại, đối với sản phẩm có mức độ gắn kết thấp, hành vi mua được thực hiện đơn giản hơn, và thường sau khi mua và sử dụng, người tiêu dùng mới có những đánh giá cuối cùng về cảm xúc với sản phẩm, thương hiệu. Gắn kết thấp Hình 1.1 Mối quan hệ giữa nhận thức và gắn kết của Bowen và Chapfffee (1974). Robertson (1976) dựa trên nên tảng lí thuyết của Krugman (1965) va Bowen, Chaffee (1974) để xây dựng mối quan hệ giữa gắn kết và trung thành thương hiệu. Trong đó, ông kế thừa nghiên cứu của ba tác giả trước khi công nhận gắn kết là sự.
quan tâm và sức mạnh từ hệ thống niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hoặc thương hiệu nhất định. Đặc biệt, gắn kết có những tác động nhất định đến mối quan hệ, sự tương tác giữa sản phẩm/ thương hiệu với người tiêu dùng hay còn gọi là trung thành thương hiệu. Hay người tiêu dùng có mức độ gắn kết cao thường tạo. ra sự quan tâm cao và từ đó trung thành với sản phẩm, thương hiệu nhiều hơn đối tượng có mức độ gắn kết thấp.
Đến đây, có thê thấy gắn kết là một trong các biến số bên cạnh nhận thức, thái độ trong việc giải thích hành vi người tiêu dùng và cần phân biệt sự khác nhau cũng, như lí giải mối quan hệ giữa các nhân tổ này. Nhân thức là quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin để hình thành nên quan niệm và hành động của cá nhân đối với môi trường xung quanh; thái độ là những. đánh giá, cảm xúc và những xu hướng hành động, có tính chất thuận lợi hay bắt lợi về một vật thể hoặc ý nghĩ nào đó. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa.
thái độ, nhận thức và gắn kết như nghiên cứu của Petty va Cacioppo (1981) đã chỉ ra Elaboration Likelihood Model (ELM), trong đó chia gắn kết ra thành hai mức độ: cao và thấp. Người tiêu dùng hình thành mức độ gắn kết cao khi nhận thức mức độ. rủi ro cao, đòi hỏi nhiều phức tạp và thường xử lí thông tin bằng đường trung tâm — xử lí các thông tin chính như chức năng sản phẩm, thương hiệu, giá cả và thông qua đó hình thành nên thái độ với sản phẩm, thương hiệu. Ngược lại, với tình huống mua có mức độ gắn kết thấp từ mức độ nhận thức rủi ro thấp (mua sản phẩm ít phức tạp như sản phẩm tiêu dùng thường ngày), người tiêu dùng thường xử lí thông tin theo đường ngoại vi, lúc này thái độ hình thành.
trước và dùng đề sàng lọc những thông tin cần thiết hay chấp nhận thông tin đã có. 'Và trong trường hợp này, người tiêu dùng cũng chỉ quan tâm đến một vài thông tin “ngoại vi” trong các chương trình truyền thông như người phát ngôn, hình ảnh hay âm thanh. Ví dụ, khán giả xem truyền hình sẽ chọn mua sản phẩm Dr Thanh do. người phát ngôn thương hiệu là MC Quyền Linh (thái độ đối với nguồn thông điệp chứ không hẳn là do người tiêu dùng hiểu và đánh giá được tầm quan trọng của từng thành phần tạo nên loại nước giải khát này).2 ELM của Petty và Cacioppo (1981) Ngoài ra, mối quan hệ giữa gắn kết với thái độ và niềm tin còn được thể hiện trong nghiên cứu của Andrew A.
Mitchell (1981) về mức độ gắn kết và việc xử lí thông tin. Mitchell định nghĩa gắn két là trạng thái bén trong của mỗi cá nhân, với sự cô gắng và hành động hướng đích và theo ông “sự cố gắng” và “hành động hướng đích” này phụ thuộc vào mức độ gắn kết (cao/thấp) của. từng tình huống. Niềm tin Gắnkết | „| Tiếp | „| nh bot Tăng cường xử | cao.
xúc thông điệp lí thông điệp Thái độ Gắn kết ‘ xế | | Tiếpxúc | ạ| Linhhội ộ Giảmam bớtbốt xửxử thập thông điệp lí thông điệp Thái Hình 1.3 Xử lí thông tin dưới mức độ gắn kết cao và thấp Trong nghiên cứu này của Andrew A. Mitchell, có thể thấy mức độ gắn kết ảnh hưởng đến việc hình thành niềm tin - cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng. và thái độ - sự đánh giá tích cực hay tiêu cực với sản phẩm, thương hiệu từ việc tăng cường hay giảm bớt việc xử lí thông điệp trong các chương trình truyền thông. Nếu các tác giả trên đều tập trung vào gắn kết sản phẩm thì nghiên cứu năm 1989 của Mittal lại tìm hiểu sâu hơn về gắn kết thương hiệu, theo đó gắn kết là mức.
độ quan tâm của cả nhân đến sự vật và mức độ quan tâm này phụ thuộc vào thương hiệu mà người tiêu dùng lựa chọn. Có nghĩa là đối với từng chủng loại sản phim, người tiêu dùng có xu hướng gắn kết với thương hiệu này thay vì thương hiệu khác. Chẳng hạn, đối với người tiêu dùng Mĩ, khi nói đến điện thoại hay máy tính thì Apple là thương hiệu họ cảm thấy gắn kết nhất. Hay Honda là thương hiệu xe gắn máy người tiêu dùng Việt Nam cảm thấy gắn kết nhiều hơn các thương hiệu khác.
như Yamaha, SYM hay Suzuki Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn không cung cấp được một định nghĩa chung nào về sự gắn kết và tùy vào quan điểm khác nhau, mỗi tác giả sẽ có cách. nhìn nhận khác nhau về biến số này, Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất hai đặc điểm quan trọng và phổ biến cần phải nêu ra được trong khái niệm của sự gắn kết là “tắm quan trọng của quyết định mua” và “sự quan tâm đến sản phẩm, thương hiệu”.2 Phân loại gắn kết Một số nhà nghiên cứu như Bloch (1983), Bloch và Richins (1983), Zaichkowsky (1985) phân biệt rõ ràng hai loại gắn kết (1) sự gắn kết sản phẩm.1 Gắn kết với sản phẩm a. Khai niệm Gắn kết sản phẩm phản ánh mức độ nhận thức và quan tâm của người tiêu dùng. đái với một chủng loại sản phẩm cụ thể, thể hiện tằm quan trọng của một sản phẩm với cá nhân và giá trị của người tiêu dùng (Traylor, 1981).
Hay nói cách khác, gắn kết phẩm là sự cảm nhận liên quan của một cá nhân đối với sản phẩm, dựa trên nhu. cầu, giá trị hay sự quan tâm của người tiêu dùng (Zaichkowsky, 1985). Một vài tác giả đã nghiên cứu đặc điểm của gắn kết sản phẩm, trong đó, người. tiêu dùng có mức độ gắn kết sản phẩm cao (mua sản phẩm có giá trị cao, tần suất mua lặp lại thấp, sản phẩm thê hiện giá trị của người tiêu dùng,.) thường: It nhạy cảm với sự thay đổi giá hơn người tiêu dùng có mức độ gắn kết thấp.
Điều này có thê được giải thích dễ dàng khi những.