Chương I NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VE XOA BOI GIAM NGHEO 1. KHAINIEM NGHEO DOL Nghéo là một khái niệm có nhiều mặt, da nội dung và có thể được diễn giải không giống nhau. Cho nên không có một khái niệm duy nhất về nghèo và khó có thể làm rõ ranh giới giữa khái niệm chính xác và cái có thể đo được trong thực tế. Việc đo lường được từng khía cạnh về nghèo một cách thống nhất là điều rất khó, còn gộp tất cá những khía cạnh đó vào một số chỉ số nghèo hay thước đo nghèo khổ duy nhất à không thể.
~ Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2004 của các tổ chức quốc tế tài trợ chính trong thực hiện đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân năm 2003: *N ghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn và. dễ bị tổn thương trước những đột biến bắt lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng. lệt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đó nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế- xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan 9/1993: “N ghèo là tình trạng.
một bộ phân dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. ~ Trong Báo cáo về phát triển con người năm 1997, theo đó “N ghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khô đa chiều của con người — là sự thiệt thòi theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con người”. Dù có sự khác biệt rong cách nhìn nhận về vấn dé nghèo đói, nhưng tựu trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo, đó là + Thứ nhất: có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của công đồng dân + Thứ hai: không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu đành cho con người + Thứ ba: thiếu cơ hội lra chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo được nhận diện trên hai khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo tương.
Nghèo tuyệtđối 'Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Khái niệm này nhằm biểu thị một mức thu nhập tối thiểu, cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản nhr lương thực, quản áo, nhà ở để cho mỗi người có thể tiếp tục tồn tại. Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuân về mức thu nhập của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiêu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế tro ng từ ng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dẫn lên.
* Đối với WEB: để đảm bảo tính so sánh quố c tế của chỉ tiêu tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo, WB đưa ra hai mức chuẩn là thu nhập dưới 1 đô là Mỹ 1 ngày và thu nhập dưới2 đô la Mỹ 1 ngày được chuyển đồi theo sức mua trơng đương (PPP- Purchasing Power Parity) cia dé la My nim 1993. Đây là ngưỡng chỉ tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tôi thiểu cẩn thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2.100 calo/ngrờýngày, N gưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo ở mức độ thấp). Vì mức chỉ tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung. cấp năng lượng, mà không đủ chỉ tiêu cho những hàng hóa phi lương thực.
Những, người có mức chỉ tiêu dưới mức chỉ cần thiết để đạt được 2.100 calo/ngày gọi là “nghèo về lương thực, thực phẩm”. Ngoài ra, WB còn đưa ra ngưỡng nghèo chung đó là ngrỡng bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm.1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của WB. Khu we Mire tha nhập tôi thiêu _ (USD/ngrời/ngà y) Các nước đang phát triên khác 1 USD (hoặc 360 USD/năm) Chiu Mj Latinh vi Carbe 2 Đông Âu. 4 Các nước phát triên 144 * Đối với Việt Nam có hai cách tiếp cận: thứ nhất, là dựa vào cả thu nhập và chỉ tiêu theo đầu người (phrơng pháp của Tổng cục Thống kê); thứ hai, là dựa.
trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của Bộ La động thương bình và Xã hội) ~ Phương pháp của Tổng cục Thống kê: phương pháp này xác định hai ngưỡng nghèo đó là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm, và ngrỡng nghèo chung (hoặc nghèo chỉ tiêu), những hộ nào có chỉ tiêu dưới mức này được xem là hộ nghèo, là số tiền cần thiết để mua được + Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩi một số lương thực, thực phâm hằng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng. + Ngưỡng nghèo chung bao gồm cả phần chỉ tiêu cho hàng hóa phi hương thực (đã nêuở trên). Như vậy, phương pháp tiếp cận này tương tự cách tiếp cận của WB. ~ Phương pháp của Bộ Lao động thương bình và Xã hội: phương p háp này hiện đang được sử dụng để xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ- TTg của Thủ trớng Chính phủ ngày§ tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho gai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ngrời/tháng @.000 đổng/người/năm) trở xuống là hộ nghẻo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới3.000 đồng/người/năm) trở xuố ng là hộ nghèo. Theo đó, vào năm 2010 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã công bố điều tra tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam năm 2010 là 9,45%. ông số hộ nghèo cả. nước là trên 3,05 triệu, hộ cân nghèo là trên 16 triệu.
Trong đó, khu vực Đông Bắc chiếm 19,03%, Tây Bắc 7,74%, Đồng bằng Sông Hồng 13,41%, Khu 4 cũ 18,92%, Duyên hải Miền Trung 10,91%, Tây Nguyên 8,6%, Đông Nam Bộ 2,55%, Đồng bằng sông Cửu Long 18,85%. Š tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là Tp Hỗ Chi Minh (0,01%), Bình Dương (005%), Đồng Nai (1,45%), Bà Rịa Vũng Tàu (4,35%), Hà Nội (4,97%). Đây là những địa phương đã ban hành chuẩn nghèo riêng. cao hơn chuẩn nghèo quốc gia.
“Theo Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chi Minh ngiy 29 thang 3 nim 2010 về việc ban hành chuẩn nghèo Thành phố, áp. dụng cho giai đoạn 3 (2009 - 2015), cu thé: hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bìh quân từ 12000000 đồngngrờinăm trở xuống (tương đương 2 USD/ngrời/ngày), không phân biệt nội thành và ngoại thành, được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Theo Nghị quyết số 1282008/NQ- HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày 05 thang 12 nim 2008 về điều chỉnh chuẩn nghèo. thì chuẩn nghèo tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2009 — 2010 là: khu vực nông thôn 450.000đingrời/tháng trở xuống, khu vực thành thị 650.000đ/ngườïtháng trở xuống.
Nghèo trơng đối Nghèo đó ¡ tương đối là tình trạng mà một người, hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định. Như vậy nghèo khô trơng đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó. Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn, có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt nhữ ng cái mà đại bộ phận những người khác trong xã hội được hưởng. Do đó, chuẩn mực để xem xét nghèo khô trơng đối thường khác nhau giữa các nước, hoặc các vùng, và sẽ luôn hiện diện bắt kể trình độ phát triển kinh tế xã hội nào.
Nghéo khô trơng đối cũng là một hình thức biêu hiện sự bất bình đăng trong phân phối thu nhập. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng chuẩn nghèo tuyệt đối của Bộ lao động thương bình và Xã hội. Khái niệm xóa đói giám nghèo. “Xóa đó ¡ giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối trợng thuộc điện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để bọ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu we, quic gia.
Vai trò của xóa đói giảm nghèo. Giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. “Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất đề giảm nghèo. Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố đảm bảo clo sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
Xóa đói giảm nghèo là yêu cầu cần thiết ôn định chính trị, xã hội. những năm gần đây một số vấn để về chính trị, xã hộiở một số vùng miền núi và những nơi khó khăn diễn biến phức tạp. Điều đó có nghĩa là xóa đói giảm nghèo ở rước ta không đơn thuần là một chương trình kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ôn định chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ. khía cạnh khác nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các mặt xã hội và.
chính tị: Các tệ nạn xã hội phát sinh như: trộm cấp, cướp giật, ma túy, mại dâm. đạo đức bị suy đồi, an ninh xã hội không được đảm bảo đến một mức nhất định có thể dẫn đến rối bạn xã hội. Nếu nghèo đói không được chú ý giải quyết, tỷ lệ và cấp độ của nghèo vượt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả mắt ôn định chính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, đặc biệt là nguy cơ “tiễn biến hòa bình” và chiến tranh biên giới mềm. Nếu giải quyết không thành công van dé xóa đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế mà Việt Nam đang phan dau.
Nội dung của xóa đói giảm nghèo.