CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VEGIAMNGHEO 1. Những vấn để chung về nghèo. Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt: trình độ phát triển kinh tế, diéu kiện địa lý tr nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hoá, tín ngưỡng và tập tục, hệ tư tưởng và chế độ chính trị. Nhưng đủ có sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vẫn đề bức xúc cần được quan tâm, một trong những vấn đẻ rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lịc hậu.
Nhiều diễn đàn khu vực và thể giới đã khẳng định, đói nghèo là vẫn để nỗi côm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn để đói nghèo không chỉ ở phạm. vi quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến mắt ổn định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường; di dân quốc tế Š ạt phá huỷ môi trường, tiêu cực xã bội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại. Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn để riêng của một quốc ga, mà là vấn đề quốc. Hội nghị thượng đỉnh thể giới về phát triển xã hội, hop tai Copehagen Dan Mach thang 3/1995, những người đứng đầu các quốc gia, đã trịnh trọng tuyên bố “Chúng.
tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thể giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị kinh tế của nhân loai” [12] 'Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan niệm. đúng về đói nghèo. Tuy vận , cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Khái niệm, tiêu chí đánh giá nghèo Khái niệm về nghèo đói được nêu ra tại hội nghị bàn về soá đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993: Nghéo i tinh trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những như.
cầu co bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quản của địa phương [12] Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc tế thường chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư, từ đó xác định các quốc gia giầu, nghèo trên thế giới và phân chia dân cư của mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành nhóm giàu, nghèo. Đối với các quốc gia, hiện nay Ngân hàng thể giới (WB) dua ra các tiêu chi đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân đầu người theo hai cách tính: - Phương pháp ATLAS tức là tỷ giá hồi đoái và tính theo USD. - Phương pháp PPP là phương pháp sức mua trơng đương tinh theo USD Từ đó ở cắp quốc gia, WB cha các quốc gia trên thế giới thành4 nhóm: Nhóm các nước nghèo nhất Nhóm các nước có trình độ trung bình Nhóm các nước có thụ nhập khá cao, Nhóm các nước có thu nhập cao và rất cao. Trong quá trình nghiên cứu nghèo đói và thực hiện hỗ trợ chương trình XĐGN ở ViệtNam, Ngân hàng thé giới đưa ra mức chuẩn nghèo đói cho Việt Nam.
Căn cứ cơ bản để N gân hàng thế giới xác định ngưỡng nghèo đói ở Việt Nam là lượng Cabo đi thiểu cho 1 người tong 1 ngày. Từ đó, so sinh thu nhập của gia đình mưa sắm thức ăn đủ số Calo cần thiết theo yêu cầu. Ngân hàng thế giới đưa ra mức. yêu cầu lượng calo của người Việt Nam là 2100C Vngười/ ngày.
Căn cứ vào giá cả các loại thứ c ăn cần thiết, Ngân hàng thế giới đưa ra mức chỉ phí cần cho 1 ngườiở tước ta vào thời ky 1992 - 1993 là 729.000 đồng/năm [12] Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân cư tại nước ta năm 1993 và năm 1998, Ngân hàng thể giới phân loại nghèo đó thành 2 bại: nghèo đói chưng và nghèo đối lương thực, thực phẩm Ứng với mỗi loại nghèo đói trên, Ngân hàng thể giới nêu ra ngường đói nghèo cho từng bại ở Việt Nam. Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm: - Năm 1993 62.500 đồng/người tháng.000 đồng/người tháng. Ngưỡng nghèo chung - Năm 1993 96.600 đồng/người/háng - Năm 1998 149.000 đồng/người tháng. Như vậy, theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, Việt Nam cần thết phân loại nghèo đói ở cả 2 dạng: dạng và ngưỡng nghèo đói chung, dạng và ngường nghèo đói lương thực.
Theo quan niệm của Ngân hing thé giới, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về ương thực để đảm bảo đủ lượng calo 2100/người'ngày, còn có những khoản chỉ tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm. Do đó, chuẩn cửa ngưỡng nghèo đói chung có mức cao hơn chuẩn nghèo đói krơng thực, thực phẩm. Nghéo có 2 dạng: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối là tinh trang một bộ phận dân eư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bắt bình đẳng. trong quan hệ phân phối của cải xã hội gira các nhóm xã hội, các tằng lớp dân cư, các vùng địa lý. Như vậy, nghèo đói là quan niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian. Về nghẻo tuyệt đố¡, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trang một bộ phận dân cư không được thoả mãn các nhu cầu tối thiểu- trước hết là ăn gắn.
liền với dinh dưỡng. Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc. Pham tri "nhu cầu tối thiểu” cũng được mở rộng dẫn. Còn về nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống.
trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Vì những lẽ đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vẫn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo. Chuẩn nghèo cửa Chính phủ Việt Nam: Năm 2006 chuẩn nghèo này là từ 200 nghin déng/ngudi/thing trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 260 nghìn đồng/ngrời/tháng trở xuố ng đối với khu vực thành thị. Chuẩn nghèo này được cập.
nhật theo giá năm 2008 là từ 280 nghìn đồng/người4háng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 370 nghìn đống/ngườitháng trở xuống đối với khu vực thành thị [11,tr 10]. Đến năm 2010 Chính phủ ban hành chuẩn nghèo mới và cận nghèo áp. dung cho giai đoạn 2011-2015 & tir 400 nghìn đồ ng/ngrờitháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 500 nghìn đống/ngườïtháng trở xuống đối với khu vực. thành thị đối tượng cân nghèo R hộ có thu nhập tir 401-520.
nghin đồngngờiháng đối với khu vực mông thôn và từ S0I- 650 nghìn đồng/ngrời/tháng đố ¡ với khu vực thành thị [9]. Ngoài việc điều chỉnh cho phủ hợp. với sự biến động của giá cả, chuẩn nghèo này có thể được thay đổi khi nguồn lực của Chính phủ hay chính quyền địa phương gia tăng Chuẩn nghèo của Chính phủ. được sử dụng cho mục đích thực hiện hỗ trở xã hôi trong khuôn khổ các chương trình mục tiêu giảm nghèo.
' các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số kinh. tế chủ yếu là nông nghiệp, từ cung tự cấp và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tỷ lệ đói nghèo ở khu vực này khá cao. Một khi phải đối mặt với thách thức: ăn, mặc, chỗ ở thì đời số ng tỉnh thẫn cũng nghèo nàn. Tất cả thu nhập thực tế cửa họ hẳu như dành toàn bộ cho chi phí ăn, thâm chí không đủ ăn, vậy ngoài nhu cầu về ăn m các nhu.
cầu cơ bản khác như mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá tính thần, thông tin liên lạc.chỉ đáp ứng mộtphẳn rất nhỏ bé [2]. Đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lich sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người. Õ một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mắt ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tắt cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, gira các thời kỷ.
Các nguyên nhân dẫn đến nghèo Nghèo đói là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội. Đã hàng trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cổ gắng lý giải hiện tượng nghèo đói, nhất là nguyên nhân và cách khắc phục. Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo rit da dạng. Có những nhà nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo chủ yếu từ kha cạnh nhân chủng học hoặc dân số học.
Đồ ng thời cũng 10 xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân vẻ tự nhiên, kinh tế, chính. tị- xã hội Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói các nhà nghiên cứu trên thé giới cũng đã phân tích khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tuy vậy, cách tiếp cân phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo rất đa dạng. Nhiều nhà xã hội học hiện đại đã khái quát 3 nhóm nhân tố liên quan đến giảu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và quyền lực. Ở Việt Nam nghèo đói do các nguyên nhân sau: 1.
Nhân tổ tự nhiên Điều kiện tự nhiên: vi tri, địa hình khí hậu, đắt đai, tài nguyên. thuận lợi, những vùng ít bị thiên tai và địch bệnh thì hộ nghèo sẽ ít hơn. Những vùng khó khăn dễ gặp rủi ro do điều kin ngoại cảnh. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi, rất tểm ting cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, đặc bit là các loại cây công nghiệp có giá trị Tuy nhiên, higu qui sản xuất lại phụ thuộc rất lớn vào điều.
kiện thời tiết khí hậu, nước tưới, giá cả vật tư, phân bón. Việc rớt giá một số sản phẩm nông nghiệp trong nhiều năm qua, cùng với nắng hạn, mưa lũ thất thường, dịch bệnh đã làm cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số gặp rắt nhiều khó khăn.