Luận văn thạc sĩ kinh tế: Giảm nghèo cho đồng bào DTTS tại huyện Đăk Tô, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô tỉnh kon tum, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn giảm nghèo cho dân tộc thiểu số tại Đăk Tô

Luận văn thạc sĩ kinh tế với chủ đề giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum là một công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo. Đề tài nhấn mạnh tính cấp thiết của công tác xóa đói giảm nghèo, xem đây là chính sách xã hội cơ bản, hướng vào phát triển con người và là nhiệm vụ chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. Việc nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn mang tầm quan trọng về chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng, đặc biệt tại vùng Tây Nguyên. Mục tiêu của luận văn là đánh giá đúng thực trạng, phân tích các nguyên nhân sâu xa và từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững. Nghiên cứu tập trung vào các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Xơ Đăng, trên địa bàn huyện Đăk Tô trong giai đoạn 2006-2010. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu thứ cấp từ các báo cáo của huyện, tỉnh và số liệu sơ cấp qua khảo sát thực tế, từ đó cung cấp một cái nhìn toàn diện về bức tranh đói nghèo và các yếu tố tác động. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan chức năng trong việc xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả, góp phần cải thiện đời sống, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng, đảm bảo an sinh xã hội cho các nhóm yếu thế.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của công tác xóa đói giảm nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước xác định là một chủ trương lớn, có vị trí chiến lược trong quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên sinh sống, vấn đề này càng trở nên cấp bách. Huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, là một địa bàn điển hình với tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp. Thực trạng này không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, xã hội. Việc nghiên cứu sâu về thực trạng và tìm ra giải pháp giảm nghèo cho Đăk Tô không chỉ là nhiệm vụ kinh tế đơn thuần mà còn là việc thực hiện chính sách dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết, giữ vững an ninh quốc phòng.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu giảm nghèo tại Kon Tum

Luận văn đặt ra mục tiêu chính là đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội khả thi nhằm thực hiện giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Đăk Tô. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ cụ thể: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đói nghèo, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng. (2) Phân tích, đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác giảm nghèo tại huyện, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. (3) Phân tích các lợi thế và thách thức của địa phương trong công tác giảm nghèo. (4) Xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ, từ việc tạo sinh kế cho người nghèo đến hoàn thiện các chính sách giảm nghèo và nâng cao vai trò của các chủ thể liên quan.

1.3. Tổng quan cơ sở lý luận về đói nghèo và chính sách liên quan

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận về nghèo đói, bao gồm các khái niệm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo đa chiều. Luận văn phân tích các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bao gồm các nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và bản thân người nghèo. Dựa trên kinh nghiệm giảm nghèo của Việt Nam và một số địa phương khác như huyện Kon Plông, thành phố Kon Tum, nghiên cứu rút ra những bài học quý báu về việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và cộng đồng, đồng thời phát huy nội lực, ý chí vươn lên của chính người nghèo. Đây là cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng các giải pháp phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Kon Tum.

II. Phân tích thực trạng đói nghèo tại huyện Đăk Tô Kon Tum

Thực trạng đói nghèo tại huyện Đăk Tô mang những đặc điểm phức tạp, chịu tác động sâu sắc từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội. Về tự nhiên, dù có tiềm năng về đất đai, khí hậu của Đăk Tô lại khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, hạn hán, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp vốn là nguồn sinh kế chính. Về kinh tế, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất manh mún, tự cung tự cấp. Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi còn yếu kém, gây khó khăn cho việc giao thương và ứng dụng khoa học kỹ thuật. Kết quả điều tra năm 2010 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 86,2% tổng số hộ nghèo toàn huyện. Nguyên nhân chính của thực trạng đói nghèo bao gồm: thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn, tập quán canh tác lạc hậu, trình độ học vấn thấp, đông con và còn tồn tại tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Mặc dù các chính sách giảm nghèo như Chương trình 135, 134 đã được triển khai, mang lại những kết quả nhất định về cải thiện hạ tầng và hỗ trợ sản xuất, nhưng hiệu quả chưa cao, tỷ lệ tái nghèo còn lớn. Những hạn chế này đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá và phù hợp hơn với thực tiễn địa phương.

2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tác động đến đói nghèo

Huyện Đăk Tô nằm ở vị trí trung tâm phía bắc tỉnh Kon Tum, có điều kiện tự nhiên huyện Đăk Tô mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, vừa đối mặt với nhiều rủi ro thiên tai. Dân số của huyện năm 2009 là 38.209 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 48,47%, chủ yếu là dân tộc Xơ Đăng. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhưng năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Cơ sở hạ tầng tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, đặc biệt là đường giao thông liên thôn, bản. Đây là những rào cản lớn, tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận thị trường, dịch vụ xã hội và cơ hội thoát nghèo của người dân.

2.2. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến nghèo đói của người dân tộc thiểu số

Nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đăk Tô bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân đan xen. Về khách quan, đó là do điểm xuất phát kinh tế thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém. Về chủ quan, nguyên nhân chính là do thiếu tư liệu sản xuất (đất đai, vốn), trình độ học vấn và tay nghề hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu, ngại thay đổi. Bên cạnh đó, các phong tục, tập quán như chi tiêu tốn kém cho lễ hội, sinh đẻ nhiều, và tâm lý ỷ lại vào các chính sách trợ cấp của nhà nước cũng là những yếu tố cản trở nỗ lực giảm nghèo bền vững. Việc xác định đúng các nguyên nhân này là chìa khóa để xây dựng các giải pháp can thiệp hiệu quả, tác động vào gốc rễ của vấn đề.

2.3. Đánh giá kết quả và hạn chế của các chính sách giảm nghèo

Trong giai đoạn 2006-2010, huyện Đăk Tô đã triển khai nhiều chương trình, chính sách giảm nghèo của Trung ương và địa phương. Các chính sách này đã giúp cải thiện một phần cơ sở hạ tầng, hỗ trợ hàng ngàn lượt hộ nghèo vay vốn, cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm qua các năm. Tuy nhiên, công tác giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế: kết quả chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao, một số chính sách còn mang tính bình quân, dàn trải, chưa thực sự tạo ra động lực để người dân tự vươn lên. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc giám sát, hướng dẫn và lồng ghép các chương trình đôi khi còn hạn chế, chưa phát huy hết hiệu quả.

III. Top giải pháp tạo sinh kế cho người nghèo tại Đăk Tô

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, việc tạo ra sinh kế cho người nghèo là nhóm giải pháp trọng tâm và có tính quyết định. Luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp tập trung vào việc tạo điều kiện cho các hộ dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, tăng thu nhập. Trước hết, cần đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất thông qua việc quy hoạch lại vùng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với lợi thế của địa phương. Cần tập trung vào các loại cây có giá trị kinh tế cao, đồng thời xây dựng các mô hình khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật trực tiếp cho người dân. Thứ hai, giải quyết nút thắt về vốn thông qua việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của vốn tín dụng chính sách. Cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng mức cho vay và kéo dài thời hạn vay, đồng thời tăng cường công tác giám sát, hướng dẫn sử dụng vốn đúng mục đích. Cuối cùng, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là giải pháp mang tính dài hạn, giúp người dân chuyển dịch từ nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp, tạo thêm việc làm và thu nhập ổn định. Các chương trình đào tạo cần gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường và đặc điểm của lao động địa phương.

3.1. Hỗ trợ sản xuất và phát triển nông nghiệp nông thôn

Giải pháp cốt lõi là tập trung vào phát triển nông nghiệp nông thôn. Cần hỗ trợ người dân về giống, vật tư, phân bón theo hướng sản xuất hàng hóa. Địa phương cần xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả như mô hình chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả, phát triển kinh tế dưới tán rừng. Đồng thời, cần đầu tư xây dựng, nâng cấp các công trình thủy lợi nhỏ, đảm bảo nước tưới tiêu, giảm sự phụ thuộc vào thiên nhiên. Việc liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà nông - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) cần được thúc đẩy để giải quyết vấn đề đầu ra cho nông sản, giúp người dân yên tâm sản xuất.

3.2. Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính sách

Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng bậc nhất. Cần tăng cường nguồn vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, đảm bảo 100% hộ nghèo và cận nghèo có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận vốn vay. Cần đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, không chỉ cho vay sản xuất nông nghiệp mà còn hỗ trợ các hộ kinh doanh dịch vụ nhỏ, học nghề, xuất khẩu lao động. Các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cần phát huy tốt hơn nữa vai trò tín chấp, bảo lãnh và hướng dẫn các hộ vay vốn sử dụng hiệu quả, tránh tình trạng đầu tư sai mục đích hoặc tiêu dùng.

3.3. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa phương

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp cho sự phát triển lâu dài. Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được thiết kế lại theo hướng "cầm tay chỉ việc", tập trung vào các nghề thực tế như sửa chữa máy nông cụ, dệt thổ cẩm, chế biến nông sản, kỹ thuật xây dựng cơ bản, hoặc các dịch vụ phục vụ phát triển du lịch cộng đồng. Việc đào tạo cần gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo thông qua liên kết với các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn. Qua đó, giúp lao động nông thôn có thêm kỹ năng, tự tin tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động.

IV. Cách thức cải thiện an sinh xã hội cho đồng bào thiểu số

Song song với các giải pháp kinh tế, việc cải thiện hệ thống an sinh xã hội là nền tảng vững chắc giúp người nghèo vượt qua khó khăn và ngăn ngừa tái nghèo. Các chính sách xã hội cần được thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện, đảm bảo người dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Trước hết, cần đảm bảo 100% người nghèo, người dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã. Trong lĩnh vực giáo dục, cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, tạo điều kiện tối đa để con em hộ nghèo được đến trường, phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo do trình độ dân trí thấp. Các chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt hợp vệ sinh cần được rà soát và thực hiện quyết liệt, giúp người dân ổn định cuộc sống. Đặc biệt, công tác tuyên truyền, vận động cần được đổi mới, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên, thay đổi nhận thức và hành động của chính người nghèo, xem đây là yếu tố nội sinh quan trọng nhất trong công cuộc giảm nghèo bền vững.

4.1. Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục

Để cải thiện chất lượng cuộc sống, việc tiếp cận y tế và giáo dục là vô cùng cần thiết. Chính quyền cần đảm bảo việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế kịp thời và đầy đủ, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ tại tuyến y tế cơ sở để người dân tin tưởng. Về giáo dục, ngoài miễn giảm học phí, cần có các chính sách hỗ trợ bán trú, hỗ trợ gạo cho học sinh vùng khó khăn để duy trì sĩ số, hạn chế tình trạng bỏ học. Nâng cao dân trí là con đường căn cơ để thay đổi nhận thức, tiếp thu khoa học kỹ thuật và thoát nghèo một cách bền vững.

4.2. Giải quyết vấn đề đất ở nhà ở và nước sinh hoạt

An cư mới lạc nghiệp. Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cần được thực hiện dứt điểm, đảm bảo các hộ thiếu đất có đủ tư liệu sản xuất tối thiểu. Chương trình hỗ trợ nhà ở (theo Quyết định 134, 167 của Chính phủ) cần tiếp tục được triển khai, giúp các hộ nghèo xóa nhà tạm, nhà dột nát. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng các công trình nước sinh hoạt tập trung hoặc hỗ trợ các hộ tự tạo nguồn nước hợp vệ sinh là một yêu cầu cấp bách, góp phần cải thiện sức khỏe và điều kiện sống cho người dân.

4.3. Tăng cường tuyên truyền và vai trò của chính quyền địa phương

Vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể là cực kỳ quan trọng. Cán bộ cơ sở phải là người gần dân, hiểu dân, trực tiếp hướng dẫn, vận động người dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm. Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, bằng nhiều hình thức dễ hiểu, nêu gương các điển hình thoát nghèo, khơi dậy khát vọng vươn lên. Cần xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thay vào đó là ý thức tự giác, chủ động trong lao động sản xuất. Chính sự chuyển biến từ bên trong mỗi người dân, mỗi gia đình mới là động lực mạnh mẽ nhất cho công cuộc xóa đói giảm nghèo.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VEGIAMNGHEO 1. Những vấn để chung về nghèo. Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt: trình độ phát triển kinh tế, diéu kiện địa lý tr nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hoá, tín ngưỡng và tập tục, hệ tư tưởng và chế độ chính trị. Nhưng đủ có sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vẫn đề bức xúc cần được quan tâm, một trong những vấn đẻ rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lịc hậu.

Nhiều diễn đàn khu vực và thể giới đã khẳng định, đói nghèo là vẫn để nỗi côm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn để đói nghèo không chỉ ở phạm. vi quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến mắt ổn định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường; di dân quốc tế Š ạt phá huỷ môi trường, tiêu cực xã bội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại. Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn để riêng của một quốc ga, mà là vấn đề quốc. Hội nghị thượng đỉnh thể giới về phát triển xã hội, hop tai Copehagen Dan Mach thang 3/1995, những người đứng đầu các quốc gia, đã trịnh trọng tuyên bố “Chúng.

tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thể giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị kinh tế của nhân loai” [12] 'Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan niệm. đúng về đói nghèo. Tuy vận , cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Khái niệm, tiêu chí đánh giá nghèo Khái niệm về nghèo đói được nêu ra tại hội nghị bàn về soá đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993: Nghéo i tinh trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những như.

cầu co bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quản của địa phương [12] Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc tế thường chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư, từ đó xác định các quốc gia giầu, nghèo trên thế giới và phân chia dân cư của mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành nhóm giàu, nghèo. Đối với các quốc gia, hiện nay Ngân hàng thể giới (WB) dua ra các tiêu chi đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân đầu người theo hai cách tính: - Phương pháp ATLAS tức là tỷ giá hồi đoái và tính theo USD. - Phương pháp PPP là phương pháp sức mua trơng đương tinh theo USD Từ đó ở cắp quốc gia, WB cha các quốc gia trên thế giới thành4 nhóm: Nhóm các nước nghèo nhất Nhóm các nước có trình độ trung bình Nhóm các nước có thụ nhập khá cao, Nhóm các nước có thu nhập cao và rất cao. Trong quá trình nghiên cứu nghèo đói và thực hiện hỗ trợ chương trình XĐGN ở ViệtNam, Ngân hàng thé giới đưa ra mức chuẩn nghèo đói cho Việt Nam.

Căn cứ cơ bản để N gân hàng thế giới xác định ngưỡng nghèo đói ở Việt Nam là lượng Cabo đi thiểu cho 1 người tong 1 ngày. Từ đó, so sinh thu nhập của gia đình mưa sắm thức ăn đủ số Calo cần thiết theo yêu cầu. Ngân hàng thế giới đưa ra mức. yêu cầu lượng calo của người Việt Nam là 2100C Vngười/ ngày.

Căn cứ vào giá cả các loại thứ c ăn cần thiết, Ngân hàng thế giới đưa ra mức chỉ phí cần cho 1 ngườiở tước ta vào thời ky 1992 - 1993 là 729.000 đồng/năm [12] Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân cư tại nước ta năm 1993 và năm 1998, Ngân hàng thể giới phân loại nghèo đó thành 2 bại: nghèo đói chưng và nghèo đối lương thực, thực phẩm Ứng với mỗi loại nghèo đói trên, Ngân hàng thể giới nêu ra ngường đói nghèo cho từng bại ở Việt Nam. Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm: - Năm 1993 62.500 đồng/người tháng.000 đồng/người tháng. Ngưỡng nghèo chung - Năm 1993 96.600 đồng/người/háng - Năm 1998 149.000 đồng/người tháng. Như vậy, theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, Việt Nam cần thết phân loại nghèo đói ở cả 2 dạng: dạng và ngưỡng nghèo đói chung, dạng và ngường nghèo đói lương thực.

Theo quan niệm của Ngân hing thé giới, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về ương thực để đảm bảo đủ lượng calo 2100/người'ngày, còn có những khoản chỉ tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm. Do đó, chuẩn cửa ngưỡng nghèo đói chung có mức cao hơn chuẩn nghèo đói krơng thực, thực phẩm. Nghéo có 2 dạng: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối là tinh trang một bộ phận dân eư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống.

Nghèo tương đối là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bắt bình đẳng. trong quan hệ phân phối của cải xã hội gira các nhóm xã hội, các tằng lớp dân cư, các vùng địa lý. Như vậy, nghèo đói là quan niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian. Về nghẻo tuyệt đố¡, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trang một bộ phận dân cư không được thoả mãn các nhu cầu tối thiểu- trước hết là ăn gắn.

liền với dinh dưỡng. Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc. Pham tri "nhu cầu tối thiểu” cũng được mở rộng dẫn. Còn về nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống.

trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Vì những lẽ đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vẫn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo. Chuẩn nghèo cửa Chính phủ Việt Nam: Năm 2006 chuẩn nghèo này là từ 200 nghin déng/ngudi/thing trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 260 nghìn đồng/ngrời/tháng trở xuố ng đối với khu vực thành thị. Chuẩn nghèo này được cập.

nhật theo giá năm 2008 là từ 280 nghìn đồng/người4háng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 370 nghìn đống/ngườitháng trở xuống đối với khu vực thành thị [11,tr 10]. Đến năm 2010 Chính phủ ban hành chuẩn nghèo mới và cận nghèo áp. dung cho giai đoạn 2011-2015 & tir 400 nghìn đồ ng/ngrờitháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 500 nghìn đống/ngườïtháng trở xuống đối với khu vực. thành thị đối tượng cân nghèo R hộ có thu nhập tir 401-520.

nghin đồngngờiháng đối với khu vực mông thôn và từ S0I- 650 nghìn đồng/ngrời/tháng đố ¡ với khu vực thành thị [9]. Ngoài việc điều chỉnh cho phủ hợp. với sự biến động của giá cả, chuẩn nghèo này có thể được thay đổi khi nguồn lực của Chính phủ hay chính quyền địa phương gia tăng Chuẩn nghèo của Chính phủ. được sử dụng cho mục đích thực hiện hỗ trở xã hôi trong khuôn khổ các chương trình mục tiêu giảm nghèo.

' các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số kinh. tế chủ yếu là nông nghiệp, từ cung tự cấp và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tỷ lệ đói nghèo ở khu vực này khá cao. Một khi phải đối mặt với thách thức: ăn, mặc, chỗ ở thì đời số ng tỉnh thẫn cũng nghèo nàn. Tất cả thu nhập thực tế cửa họ hẳu như dành toàn bộ cho chi phí ăn, thâm chí không đủ ăn, vậy ngoài nhu cầu về ăn m các nhu.

cầu cơ bản khác như mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá tính thần, thông tin liên lạc.chỉ đáp ứng mộtphẳn rất nhỏ bé [2]. Đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lich sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người. Õ một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mắt ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tắt cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, gira các thời kỷ.

Các nguyên nhân dẫn đến nghèo Nghèo đói là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội. Đã hàng trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cổ gắng lý giải hiện tượng nghèo đói, nhất là nguyên nhân và cách khắc phục. Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo rit da dạng. Có những nhà nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo chủ yếu từ kha cạnh nhân chủng học hoặc dân số học.

Đồ ng thời cũng 10 xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân vẻ tự nhiên, kinh tế, chính. tị- xã hội Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói các nhà nghiên cứu trên thé giới cũng đã phân tích khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tuy vậy, cách tiếp cân phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo rất đa dạng. Nhiều nhà xã hội học hiện đại đã khái quát 3 nhóm nhân tố liên quan đến giảu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và quyền lực. Ở Việt Nam nghèo đói do các nguyên nhân sau: 1.

Nhân tổ tự nhiên Điều kiện tự nhiên: vi tri, địa hình khí hậu, đắt đai, tài nguyên. thuận lợi, những vùng ít bị thiên tai và địch bệnh thì hộ nghèo sẽ ít hơn. Những vùng khó khăn dễ gặp rủi ro do điều kin ngoại cảnh. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi, rất tểm ting cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, đặc bit là các loại cây công nghiệp có giá trị Tuy nhiên, higu qui sản xuất lại phụ thuộc rất lớn vào điều.

kiện thời tiết khí hậu, nước tưới, giá cả vật tư, phân bón. Việc rớt giá một số sản phẩm nông nghiệp trong nhiều năm qua, cùng với nắng hạn, mưa lũ thất thường, dịch bệnh đã làm cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số gặp rắt nhiều khó khăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ