Chương I: Những vấn đề ý luận cơ bản về chuyển địch cơ cấu ngành kinh tế Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam giải đoạn 1997-2010, Chương III: Một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng. CHUONG I NHONG VAN DE LY LUAN CO BAN VE CHUYEN DICH CƠ CÁU NGANH KINH TE 1. CƠ CẤU NGÀNH KINH TE 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó.
Trong khi chỉ rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng sự biến đổi sự vật hiện tượng [I 1, tr 269-270]. Cơ cấu kinh tế là tông thễ các mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định [1]. Cơ cắu kinh tế không chỉ là quy định về số lượng, tỷ lệ giữa. các yếu tổ tạo nên hệ thống kinh tế mà chính là mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu.
tố của hệ thống, còn quan hệ về số lượng, tỷ lệ chỉ được xem là các biểu hiện của các mi quan hệ mà thôi. 'Trên bình diện vĩ mô, có một số loại cơ cầu kinh tế như sau: Hình 1. Các loại cơ cầu kinh tế Cơ cấu kinh tế Cơ cầu Cơ cầu Cơ cầu Cơ cấu ngành. vùng thành thương kinh tế kính tế phần, kinh tế quốc tế 'Các loại cơ cấu trên tạo ra sức mạnh của một nền kinh tế và việc phát triển kinh tế - xã hội phải được tính toán kỹ để đưa ra các chính sách không ngừng.
hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu ở trình độ thấp lên trình độ cao. Tuy nhiên, việc. phân chia các loại cơ cầu kinh tế như trên không phải là cách phân chia duy nhất, lại càng không phải có chừng ấy loại cơ cấu kinh tế mà tùy theo mục đích nghiên. cứu mà có thể phân chia theo những cách khác nhau.
Mỗi dạng đều phản ánh những khía cạnh và tính chất của quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Cơ cấu ngành kinh tế 'Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau. Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả mặt định lượng và định tính. Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế quốc dân.
Mặt định tính thể hiện vị trí va tim quan trong của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nói chung, mối quan hệ của các ngành cả số và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức. tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Nhu vay, chúng ta thấy rằng cơ cấu ngành kinh tế không ngừng vận động.
và phát triển. Tuy nhiên, không có sẵn một cơ cấu ngành kinh tế hoàn thiện, cũng như không thể có một cơ cấu ngành kinh tế chứa đựng trong đó tắt cả những sai lầm, khiếm khuyết và lạc hậu. Cơ cấu ngành kinh tế mới được bắt nguồn tử sự vận động, biến đối, chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế trước đó. Vi vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này nhằm tìm ra những cách thức duy trì tỷ.
lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có. hạn của quốc gia, của địa phương trong mỗi thời kỳ để thúc đây sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất [1 1, tr 6]} 'Các ngành kinh tế được phân chia thành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành gộp: Khu vực I gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp; khu vực II là các ngành công nghiệp - xây dựng; khu vực III gồm các ngành thương mại - dịch vụ. Các ngành trên gọi là các ngành cấp I. Trong các ngành cấp I có các ngành cấp II như: Chăn nuôi, trồng trọt trong nông nghiệp; chế biến, khai thác,.
trong công nghiệp. “Sự vận động của các ngành kinh tế và mối quan hệ của nó vừa tuân theo những dic điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia” [11, tr 6]. Các nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp. thường chiếm từ 20 - 30% GDP; trong khi các nước phát triển, tỷ trọng ngành.
nông nghiệp chỉ chiếm từ 1 - 7%. “Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự. chuyển đổi theo xu hướng chung là tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm đi, trong. khi tỷ trọng công nghiệp và thương mại - dịch vụ ngày cảng tăng lên 1.
CHUYÊN DỊCH CO CAU NGANH KINH TE 1. Khai niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Co cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn. thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao hàm sự thay đồi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên một cơ. cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phủ hợp hơn. Một số lý thuyết liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.
Quy luật tiêu dùng của E.Engel Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho các nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Đường Engel là một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hoá cụ thể. Đường mô tả quy luật tiêu dùng của E.Engel Tiêu dùng ‘Duong Engel Thu nhap Độ đốc của đường này ở bắt kỳ điểm nào chính là xu hướng tiêu dùng biên. của hàng hoá đó và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thay đổi thu nhập, nó.
phản ánh độ co giãn của tiêu đùng một loại hàng hoá cụ thể đối với thu nhập dân cư. Bằng quan sát thực nghiệm, Engel đã nhận thấy rằng khi thu nhập của các sia đình tăng lên đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ chỉ tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên đến một mức nhất định. Quy luật tăng năng suất lao động của 4.Fisher đã phân tích: Theo xu thế phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ thực hiện thay thế lao đông nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông.
dân nâng cao được năng suất lao động. Như vậy, để đảm bảo nhu cầu lương. thực thực phẩm cho xã hội thì không cần đến một lượng lao động như cũ, do đó tỷ lệ lực lượng lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dẫn trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó, ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao.
động hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ mới, mặt khác hệ số co giãn của nhu cầu tiêu dùng loại sản phẩm này lớn hơn 0 vì vậy theo sự phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế công nghệ và kỹ. thuật mới rất cao. Trong khi đó, độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nên kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1, tức là tốc độ tăng cầu tiêu dùng.
lớn hơn tốc độ tăng thu nhập. Vì vậy, tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng và tăng cảng nhanh khi nền kinh tế phát triển. Mô hình thay đỗi co’ cu ctia Chenery Chenery cho rằng, khi thu nhập trên đầu người tăng lên sẽ dẫn đến sự. chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp.
Hình mô tả mô hình thay đổi cơ cấu của Chenery GDP% Dịch vụ Công nghiệp ‘Nong nghiệp. "Thu nhập/đầu người ‘Ty trọng sản lượng công nghiệp trong GDP tăng lên và tỷ trọng sản lượng. nông nghiệp trong GDP giảm xuống khi thu nhập quốc dân trên đầu người tăng. 'Vào thời điểm năm 1976 qua khảo sát nghiên cứu Chenery cho thay những.
quốc gia khi thu nhập 200 USD/người thì giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm 45% của GDP và giá trị công nghiệp chiếm 15% GDP; khi thu nhập tăng lên 1000 USD/người thì giá trị nông nghiệp giảm xuống còn 20% GDP và giá trị công nghiệp tăng lên 28%. Tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp tương đương. nhau tại thu nhập 600 USD/người. Sự giảm ty trọng của nông nghiệp trong GDP trong quá trình phát triển không có nghĩa là giảm sản lượng mà trái lại sản lượng.
nông nghiệp thực tế vẫn tăng. Theo Chenery thu nhập bình quân đầu người dưới 600 USD thuộc giai đoạn trước phát triển, thu nhập từ 600 - 3000 USD là giai đoạn sau hay giai đoạn chuyển tiếp của phát triển. Giai đoạn trước phát triển, tăng trưởng nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp; giai đoạn sau phát triển, tăng trưởng sự thuộc vào sản xuất công. So với thay đổi cơ cấu sản xuất, sự dịch chuyển lao động từ khu vực.
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ chậm hơn. Sự địch chuyển chậm đó làm cho khu vực nông nghiệp trở nên quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho cả hai giai đoạn trước và sau phát triển kinh tế.