Luận văn thạc sĩ: Giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

92
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bí quyết luận văn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế về giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam là một công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu này tập trung phân tích sâu sắc quá trình thay đổi cấu trúc kinh tế của tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 1997-2010. Đây là thời kỳ bản lề sau khi tỉnh được tái lập, đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc sau này. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi. Các giải pháp này nhằm đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế Quảng Nam, hướng tới một mô hình tăng trưởng hiệu quả và bền vững. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành. Nó còn là sự thay đổi về chất lượng, vị trí và mối quan hệ tương tác giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế. Luận văn đã chỉ ra rằng, quá trình này tại Quảng Nam vừa là kết quả của sự phát triển, vừa là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam. Từ một tỉnh thuần nông, Quảng Nam đã từng bước khẳng định vị thế với sự trỗi dậy của công nghiệp và dịch vụ. Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc và Thái Lan cũng cung cấp những bài học quý giá về vai trò của chính phủ, chính sách thu hút đầu tư và chiến lược phát triển các ngành mũi nhọn. Nội dung của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến con đường phát triển của Quảng Nam.

1.1. Đánh giá tổng quan thực trạng kinh tế Quảng Nam 1997 2010

Giai đoạn 1997-2010 đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của Quảng Nam sau khi tái lập. Thực trạng kinh tế Quảng Nam lúc này đặc trưng bởi điểm xuất phát thấp, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chiếm tới 80% lao động. Tuy nhiên, tỉnh đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ấn tượng là 10,5%/năm. Sự tăng trưởng này chủ yếu được dẫn dắt bởi khu vực công nghiệp - xây dựng (tăng 18,06%/năm). Nền kinh tế dần thay đổi, quy mô được mở rộng, tổng sản phẩm năm 2010 gấp 3,7 lần so với năm 1997. Dù vậy, sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Theo tính toán hệ số Cosø trong luận văn, góc dịch chuyển giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp chỉ đạt 28° sau 14 năm, cho thấy sự thay đổi còn khiêm tốn. Ngành dịch vụ, dù có tiềm năng, lại tăng trưởng chưa tương xứng. Đây là bức tranh tổng thể, phản ánh cả thành tựu và những tồn tại cần giải quyết trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam.

1.2. Tính cấp thiết của việc tái cơ cấu kinh tế Quảng Nam

Việc tái cơ cấu kinh tế Quảng Nam không phải là một lựa chọn, mà là một yêu cầu cấp thiết để thoát khỏi tình trạng một tỉnh kém phát triển. Luận văn của tác giả Đoàn Ngọc Trung (2011) nhấn mạnh rằng cơ cấu kinh tế cũ không còn phù hợp với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phụ thuộc quá lớn vào nông nghiệp với năng suất thấp đã kìm hãm sự phát triển chung. Trong khi đó, các nguồn lực như tài nguyên, lao động chưa được khai thác tối ưu. Việc xây dựng một cơ cấu ngành hợp lý sẽ giúp ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực có lợi thế so sánh, tạo ra "cú hích" cho toàn nền kinh tế. Mục tiêu đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp đòi hỏi một sự thay đổi mang tính đột phá. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kinh tế vĩ mô để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu là nhiệm vụ trọng tâm, quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng trong tương lai.

II. Thách thức trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại Quảng Nam

Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại Quảng Nam đối mặt với nhiều thách thức mang tính hệ thống. Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP cao, chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững. Luận văn chỉ ra rằng, tăng trưởng công nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thô. Các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Sự phát triển này tiềm ẩn nguy cơ về môi trường và chưa tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ để thúc đẩy các ngành khác, đặc biệt là nông nghiệp. Thách thức lớn thứ hai là sự chuyển dịch cơ cấu lao động chậm hơn nhiều so với chuyển dịch cơ cấu GDP. Năm 2010, lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 60%, trong khi ngành này chỉ đóng góp khoảng 21% GDP. Điều này tạo ra sự chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa các khu vực, ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập và đời sống người dân. Thêm vào đó, hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt ở khu vực miền núi, còn yếu kém. Tỉnh cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt. Đây là những rào cản lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Phân tích hạn chế của cơ cấu kinh tế theo ngành hiện tại

Hạn chế lớn nhất trong cơ cấu kinh tế theo ngành của Quảng Nam giai đoạn 1997-2010 là sự mất cân đối. Khu vực I (nông-lâm-ngư nghiệp) có tỷ trọng giảm nhanh trong GDP nhưng vẫn thu hút phần lớn lực lượng lao động, cho thấy năng suất rất thấp. Khu vực II (công nghiệp-xây dựng) tăng trưởng nóng nhưng chủ yếu là các ngành gia công, lắp ráp như dệt may, da giày, sản xuất vật liệu xây dựng. Các ngành này có giá trị gia tăng không cao và phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Khu vực III (dịch vụ) chưa phát huy hết tiềm năng, đặc biệt là các dịch vụ chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, logistics. Ngành du lịch dù là thế mạnh nhưng phát triển chưa tương xứng, thiếu sự liên kết và các sản phẩm đa dạng. Sự thiếu liên kết giữa ba khu vực kinh tế cũng là một hạn chế, công nghiệp chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp.

2.2. Vấn đề nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là điểm nghẽn lớn nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo số liệu năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 30%, một con số rất thấp so với yêu cầu phát triển. Điều này khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư FDI, gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động có tay nghề. Nguồn nhân lực hạn chế đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Quảng Nam. Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, nhưng chỉ số PCI vẫn chưa thực sự bứt phá. Sự thiếu hụt lao động kỹ thuật cao làm giảm sức hấp dẫn đối với các dự án công nghệ cao, khiến tỉnh có nguy cơ rơi vào bẫy gia công giá rẻ. Đây là thách thức kép, vừa phải giải quyết việc làm cho lao động phổ thông, vừa phải có chiến lược đột phá để đào tạo và thu hút nhân tài.

III. Giải pháp then chốt phát triển công nghiệp xây dựng toàn diện

Để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam, luận văn xác định công nghiệp - xây dựng là khu vực động lực chính. Các giải pháp đề xuất không chỉ tập trung vào việc tăng số lượng doanh nghiệp mà còn hướng đến việc nâng cao chất lượng và phát triển theo chiều sâu. Trọng tâm là phải tái cấu trúc nội bộ ngành công nghiệp. Cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo ra giá trị gia tăng cao. Thay vì chỉ tập trung vào gia công, lắp ráp, tỉnh cần có chính sách khuyến khích các ngành công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp phụ trợ. Đặc biệt, việc hình thành và phát triển các cụm liên kết ngành là rất quan trọng. Điều này giúp tạo ra sự cộng hưởng, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả cho toàn bộ khu vực công nghiệp. Các chính sách phát triển công nghiệp cần được xây dựng một cách đồng bộ, từ quy hoạch đất đai, phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực đến hỗ trợ công nghệ và xúc tiến thương mại. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, bền vững, thực sự là đầu tàu dẫn dắt quá trình tái cơ cấu kinh tế Quảng Nam.

3.1. Tối ưu hóa vai trò Khu kinh tế mở Chu Lai và các khu công nghiệp

Phát huy tối đa tiềm năng của Khu kinh tế mở Chu Lai là giải pháp đột phá hàng đầu. Đây được xem là hạt nhân tăng trưởng của không chỉ Quảng Nam mà cả Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Cần tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ, bao gồm cảng biển Kỳ Hà, sân bay Chu Lai và hệ thống logistics. Chính sách ưu đãi đầu tư cần được rà soát để thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Bên cạnh Chu Lai, các khu công nghiệp như Điện Nam - Điện Ngọc, Thuận Yên cần được quy hoạch lại theo hướng chuyên môn hóa, hình thành các cụm công nghiệp phụ trợ, tạo thành một mạng lưới sản xuất liên kết chặt chẽ. Việc này sẽ giúp thu hút đầu tư FDI vào Quảng Nam một cách có chọn lọc, hướng đến các ngành có giá trị cao.

3.2. Xây dựng chính sách phát triển công nghiệp bền vững

Phát triển công nghiệp không thể đánh đổi bằng mọi giá. Việc xây dựng chính sách phát triển công nghiệp phải gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững. Chính sách cần ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ về tác động môi trường của các hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là tại các khu, cụm công nghiệp. Song song đó, chính sách phải tạo điều kiện để công nghiệp chế biến gắn kết với vùng nguyên liệu nông nghiệp địa phương. Điều này không chỉ nâng cao giá trị cho nông sản mà còn tạo ra sự phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của tỉnh.

IV. Phương pháp thúc đẩy ngành dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao

Bên cạnh công nghiệp, việc thúc đẩy khu vực dịch vụ và nông nghiệp là yếu tố then chốt để tạo ra một cơ cấu kinh tế cân đối và bền vững. Luận văn đã chỉ ra tỷ trọng ngành dịch vụ tăng chậm, chưa tương xứng với tiềm năng khổng lồ của tỉnh, đặc biệt là du lịch. Do đó, phương pháp tiếp cận cần có sự đột phá. Cần xây dựng du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn thực sự, không chỉ dựa vào di sản mà còn phải phát triển đa dạng các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng. Đối với nông nghiệp, khu vực đang chiếm dụng nhiều lao động nhất nhưng hiệu quả thấp nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam đòi hỏi một cuộc cách mạng trong tư duy sản xuất. Thay vì sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, cần chuyển đổi mạnh mẽ sang nông nghiệp công nghệ cao. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa, và xây dựng các chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ là con đường tất yếu. Sự phát triển của hai khu vực này không chỉ góp phần tăng trưởng GDP mà còn trực tiếp giải quyết vấn đề lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng sống cho người dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

4.1. Định hướng phát triển du lịch dịch vụ và kinh tế biển Quảng Nam

Quảng Nam sở hữu lợi thế kép với hai di sản văn hóa thế giới và 125km bờ biển. Định hướng phát triển kinh tế cần tập trung khai thác hiệu quả hai trụ cột này. Cần quy hoạch không gian du lịch một cách khoa học, kết nối chuỗi di sản Hội An - Mỹ Sơn với du lịch biển đảo tại Cù Lao Chàm, Tam Hải. Phát triển các sản phẩm du lịch chất lượng cao, thu hút phân khúc khách hàng có khả năng chi trả lớn. Song song đó, phát triển kinh tế biển Quảng Nam một cách toàn diện, không chỉ có du lịch mà còn bao gồm nuôi trồng, khai thác hải sản công nghệ cao, dịch vụ cảng biển và logistics. Việc này sẽ tạo ra một hệ sinh thái kinh tế biển - du lịch - dịch vụ năng động, góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế của tỉnh.

4.2. Chuyển đổi nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao

Giải pháp căn cơ cho khu vực nông nghiệp là chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu. Cần đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất, từ khâu chọn giống, canh tác, đến thu hoạch và bảo quản. Tỉnh cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc hữu có giá trị kinh tế cao, gắn với xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý. Việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp công nghiệp dịch vụ Quảng Nam theo hướng hiện đại không chỉ giúp tăng năng suất, giải phóng lao động nông nghiệp mà còn cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành công nghiệp chế biến, tạo ra một vòng tuần hoàn kinh tế hiệu quả.

V. Hướng dẫn thu hút đầu tư và tăng cường liên kết vùng kinh tế

Để thực hiện thành công các giải pháp nêu trên, nguồn lực đầu tư và sự hợp tác liên kết là hai yếu tố không thể thiếu. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn, từ ngân sách nhà nước, đầu tư tư nhân trong nước đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hướng dẫn chung là phải tạo lập một môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch và cạnh tranh. Cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ các rào cản không cần thiết là nhiệm vụ hàng đầu để cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Quảng Nam. Bên cạnh đó, Quảng Nam không thể phát triển đơn độc. Tỉnh cần chủ động và tích cực tham gia vào liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Sự hợp tác với Đà Nẵng và Quảng Ngãi trong việc phát triển chuỗi đô thị ven biển, hình thành các cụm ngành công nghiệp chung và kết nối hạ tầng sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng to lớn. Việc này không chỉ mở rộng thị trường mà còn giúp tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực, thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam.

5.1. Cải thiện PCI để thu hút đầu tư FDI và ODA hiệu quả

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Quảng Nam là thước đo quan trọng phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp. Để cải thiện chỉ số này, cần tập trung vào các lĩnh vực như tính minh bạch, chi phí không chính thức, tiếp cận đất đai và sự hỗ trợ của chính quyền. Một môi trường đầu tư thuận lợi sẽ là nam châm để thu hút đầu tư FDI vào Quảng Nam, đặc biệt là các dự án chất lượng cao. Ngoài FDI, việc tranh thủ hiệu quả nguồn vốn ODA để đầu tư vào các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển dài hạn, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam.

5.2. Tăng cường liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Sức mạnh của Quảng Nam sẽ được nhân lên nhiều lần thông qua hợp tác. Việc tăng cường liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là một chiến lược khôn ngoan. Cần có cơ chế phối hợp cụ thể với Đà Nẵng trong việc phát triển du lịch, công nghệ cao và đào tạo nhân lực. Đồng thời, kết nối với Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) để hình thành một chuỗi công nghiệp ven biển mạnh mẽ. Sự liên kết này còn thể hiện ở việc cùng nhau quy hoạch và đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và phát triển thương mại, dịch vụ. Đây là chìa khóa để Quảng Nam tận dụng được lợi thế vị trí địa lý của mình.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Những vấn đề ý luận cơ bản về chuyển địch cơ cấu ngành kinh tế Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam giải đoạn 1997-2010, Chương III: Một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Quảng. CHUONG I NHONG VAN DE LY LUAN CO BAN VE CHUYEN DICH CƠ CÁU NGANH KINH TE 1. CƠ CẤU NGÀNH KINH TE 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó.

Trong khi chỉ rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng sự biến đổi sự vật hiện tượng [I 1, tr 269-270]. Cơ cấu kinh tế là tông thễ các mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định [1]. Cơ cắu kinh tế không chỉ là quy định về số lượng, tỷ lệ giữa. các yếu tổ tạo nên hệ thống kinh tế mà chính là mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu.

tố của hệ thống, còn quan hệ về số lượng, tỷ lệ chỉ được xem là các biểu hiện của các mi quan hệ mà thôi. 'Trên bình diện vĩ mô, có một số loại cơ cầu kinh tế như sau: Hình 1. Các loại cơ cầu kinh tế Cơ cấu kinh tế Cơ cầu Cơ cầu Cơ cầu Cơ cấu ngành. vùng thành thương kinh tế kính tế phần, kinh tế quốc tế 'Các loại cơ cấu trên tạo ra sức mạnh của một nền kinh tế và việc phát triển kinh tế - xã hội phải được tính toán kỹ để đưa ra các chính sách không ngừng.

hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu ở trình độ thấp lên trình độ cao. Tuy nhiên, việc. phân chia các loại cơ cầu kinh tế như trên không phải là cách phân chia duy nhất, lại càng không phải có chừng ấy loại cơ cấu kinh tế mà tùy theo mục đích nghiên. cứu mà có thể phân chia theo những cách khác nhau.

Mỗi dạng đều phản ánh những khía cạnh và tính chất của quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Cơ cấu ngành kinh tế 'Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau. Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả mặt định lượng và định tính. Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế quốc dân.

Mặt định tính thể hiện vị trí va tim quan trong của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nói chung, mối quan hệ của các ngành cả số và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức. tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Nhu vay, chúng ta thấy rằng cơ cấu ngành kinh tế không ngừng vận động.

và phát triển. Tuy nhiên, không có sẵn một cơ cấu ngành kinh tế hoàn thiện, cũng như không thể có một cơ cấu ngành kinh tế chứa đựng trong đó tắt cả những sai lầm, khiếm khuyết và lạc hậu. Cơ cấu ngành kinh tế mới được bắt nguồn tử sự vận động, biến đối, chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế trước đó. Vi vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này nhằm tìm ra những cách thức duy trì tỷ.

lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có. hạn của quốc gia, của địa phương trong mỗi thời kỳ để thúc đây sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất [1 1, tr 6]} 'Các ngành kinh tế được phân chia thành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành gộp: Khu vực I gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp; khu vực II là các ngành công nghiệp - xây dựng; khu vực III gồm các ngành thương mại - dịch vụ. Các ngành trên gọi là các ngành cấp I. Trong các ngành cấp I có các ngành cấp II như: Chăn nuôi, trồng trọt trong nông nghiệp; chế biến, khai thác,.

trong công nghiệp. “Sự vận động của các ngành kinh tế và mối quan hệ của nó vừa tuân theo những dic điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia” [11, tr 6]. Các nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp. thường chiếm từ 20 - 30% GDP; trong khi các nước phát triển, tỷ trọng ngành.

nông nghiệp chỉ chiếm từ 1 - 7%. “Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự. chuyển đổi theo xu hướng chung là tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm đi, trong. khi tỷ trọng công nghiệp và thương mại - dịch vụ ngày cảng tăng lên 1.

CHUYÊN DỊCH CO CAU NGANH KINH TE 1. Khai niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Co cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn. thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao hàm sự thay đồi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên một cơ. cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phủ hợp hơn. Một số lý thuyết liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.

Quy luật tiêu dùng của E.Engel Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho các nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Đường Engel là một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hoá cụ thể. Đường mô tả quy luật tiêu dùng của E.Engel Tiêu dùng ‘Duong Engel Thu nhap Độ đốc của đường này ở bắt kỳ điểm nào chính là xu hướng tiêu dùng biên. của hàng hoá đó và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thay đổi thu nhập, nó.

phản ánh độ co giãn của tiêu đùng một loại hàng hoá cụ thể đối với thu nhập dân cư. Bằng quan sát thực nghiệm, Engel đã nhận thấy rằng khi thu nhập của các sia đình tăng lên đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ chỉ tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên đến một mức nhất định. Quy luật tăng năng suất lao động của 4.Fisher đã phân tích: Theo xu thế phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ thực hiện thay thế lao đông nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông.

dân nâng cao được năng suất lao động. Như vậy, để đảm bảo nhu cầu lương. thực thực phẩm cho xã hội thì không cần đến một lượng lao động như cũ, do đó tỷ lệ lực lượng lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dẫn trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó, ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao.

động hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ mới, mặt khác hệ số co giãn của nhu cầu tiêu dùng loại sản phẩm này lớn hơn 0 vì vậy theo sự phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế công nghệ và kỹ. thuật mới rất cao. Trong khi đó, độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nên kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1, tức là tốc độ tăng cầu tiêu dùng.

lớn hơn tốc độ tăng thu nhập. Vì vậy, tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng và tăng cảng nhanh khi nền kinh tế phát triển. Mô hình thay đỗi co’ cu ctia Chenery Chenery cho rằng, khi thu nhập trên đầu người tăng lên sẽ dẫn đến sự. chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp.

Hình mô tả mô hình thay đổi cơ cấu của Chenery GDP% Dịch vụ Công nghiệp ‘Nong nghiệp. "Thu nhập/đầu người ‘Ty trọng sản lượng công nghiệp trong GDP tăng lên và tỷ trọng sản lượng. nông nghiệp trong GDP giảm xuống khi thu nhập quốc dân trên đầu người tăng. 'Vào thời điểm năm 1976 qua khảo sát nghiên cứu Chenery cho thay những.

quốc gia khi thu nhập 200 USD/người thì giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm 45% của GDP và giá trị công nghiệp chiếm 15% GDP; khi thu nhập tăng lên 1000 USD/người thì giá trị nông nghiệp giảm xuống còn 20% GDP và giá trị công nghiệp tăng lên 28%. Tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp tương đương. nhau tại thu nhập 600 USD/người. Sự giảm ty trọng của nông nghiệp trong GDP trong quá trình phát triển không có nghĩa là giảm sản lượng mà trái lại sản lượng.

nông nghiệp thực tế vẫn tăng. Theo Chenery thu nhập bình quân đầu người dưới 600 USD thuộc giai đoạn trước phát triển, thu nhập từ 600 - 3000 USD là giai đoạn sau hay giai đoạn chuyển tiếp của phát triển. Giai đoạn trước phát triển, tăng trưởng nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp; giai đoạn sau phát triển, tăng trưởng sự thuộc vào sản xuất công. So với thay đổi cơ cấu sản xuất, sự dịch chuyển lao động từ khu vực.

nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ chậm hơn. Sự địch chuyển chậm đó làm cho khu vực nông nghiệp trở nên quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho cả hai giai đoạn trước và sau phát triển kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ