lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu trong ba chương. Cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo. Phân tích kết quả thực hiện và đánh giá các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bản tỉnh Kon Tum. Hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Kon Tum đến năm 2015.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÓA DOI GIAM NGHEO 1.1, QUAN NIEM VE DOI NGHEO VA VAI TRO CUA CHINH QUYEN DOI VOI XOA DOI GIAM NGHEO 1. Quan niệm về đói nghèo. Quan niệm về đói nghèo của các nước và các tô chức quốc tế Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về nghèo đói khác nhau. Nhà kinh tế học người Mỹ (GalBraith) chia sẻ: “Con người bị coi là nghèo khỏ khi mà thu nhập của họ ngay dù khi thích đáng để họ tôn tại.
rơi xuống rồ rệt dưới mức thu nhập của cộng đông. Khi đó không thể có những gì mà đa số cộng đông coi như cái cần thiết tối thiêu để sống một cách đúng mức ”.32] Hội nghị thượng đinh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tắt cả những ai mà thu nhập tháp hơn 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ đề mua những sản phẩm thiết yếu để tôn tại ” [17, tr. Tuy nhiên cách xác định (Cách tiế cân) này chỉ được sử dụng như một tiêu chí tham khảo giản đơn đề hình dung về tình hình nghèo đói trên thế giới mà ít được sử dụng làm cơ sở xây dựng chính sách, giải pháp giảm nghèo. Quan niệm nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của tiến sĩ A.
Quan điểm này nhìn nhận vấn đề nghèo đói toàn hơn bởi xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung, người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống mà rõ rằng người giàu có nhiều cơ hội lựa chọn hơn, người nghèo thì ít cơ hội lựa chọn hơn. Cùng với xu hướng phát triển chung của nhân loại, quan niệm về nghẻo đói được mở rộng hơn và không bị bó hẹp riêng dưới góc độ kinh tế, nhiều tổ chức phát triển đã gắn thêm những giá trị về nhân quyền, sự tham gia, dân chủ, trao quy: đẳng giới, bảo vệ môi trường. vào phạm trù nghèo đói. Sẽ không công bằng nếu nghiên cứu đưa ra các quan điểm, định nghĩa về nghèo đói từ các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức mà lại không lắng nghe quan điểm nhận, xét của chính đối tượng.
Thực tế, quan niệm từ chính người nghèo ở Việt Nam về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn. Một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân miền núi, họ nói rằng: “Nghéo đói là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì”, hay “Nghèo đói là nắng thì trong nhà cũng nhìn thấy mặt trời, mưa thì trong nhà cũng như ngoài s Một người dân Hà Tinh tra | “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo đột nát, không đủ đất đai sản xuất, không có trâu, bò, không có tiv, con cái thất học, ấm đau không có tiễn đi khám chữa bệnh. Tóm lại, cho dù tiếp cận nghèo đói theo quan điểm nào về cơ bản các quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo và được gắn liền với yếu tố khong gian, thời gian, đó là: Thứ nhất, người nghèo không được đáp ứng nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. Thứ hai, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
Thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu này, sử dụng khái niệm nghèo đói sau: “Nghéo đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu câu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quản của từng vùng và những phong tục tập quán ấy được xã hội thừa nhận” [L7, tr. Khái niệm này tương tự với khái niệm đã được thống nhất cao tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (Tháng 9 năm 1993). Điểm khác duy nhất được điều chỉnh là được thỏa mãn thay vì có khả năng thỏa mãn.
Quan niệm về đói nghèo của Chính phủ Việt Nam a. Quan niệm đói nghèo của Chính phú Việt Nam Cũng như các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác XĐGN. Chính vì vậy, thời gian qua chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động này cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc thống nhất quan m đói nghèo của Việt Nam cũng được xác định là một vấn đề cần được quan tâm.
Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú. Nó được thay đổi và ngày một gần với quan niệm đói nghèo của thế giới. Ban đầu với chia đói nghèo. thành đói và nghèo.
Trên cơ sở đó, có người đói và nghèo, hộ đói và nghẻo, xã nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. Căn cứ xác định đói hay nghèo là những nhu cầu cơ bản con người không được hưởng và thoả mãn. Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Theo đó, sự đói nghèo tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là tình trạng con người không có ăn, ăn không đủ lượng đinh dưỡng tối thiểu, sự đứt đoạn trong nhu cầu ăn.
Nói một cách khác, đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Đói lại được chia ra làm đói gay gắt kinh niên và đói gay gắt cấp tính. Trong đó, đói gay gắt kinh niên là tình trạng thiếu ăn thường xuyên. Nếu con người trong những hoàn cảnh đột xuất, bất ngờ do thiên tai bão lụt, mất mùa, bệnh tật, rơi vào cùng cực, không có gì để sống, không có đủ lương thực, thực phẩm để ăn, có thể dẫn tới cái chết thì đó là trường.
hợp đói gay gắt cấp tính. Dù ở dạng nào thì đói đều đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, dễ thấy nhất là ở trẻ em và phụ nữ. Có thể hình dung tình trạng đói, thiếu đói ở các hộ gia đình nông dân hoặc một bộ phận dân cư phải sống dưới mức tối thiêu như đã nói trên qua động thái các bữa ăn trong ngày của họ. Có máy biểu hiện: Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no; Đứt bữa: Ngày chỉ ăn một bữa hoặc bữa cơm, bữa cháo hoặc cả hai bữa đều không đủ năng lượng tối thiểu chứ chưa nói tới chất dinh dưỡng cần thiết; Đứt bữa kéo dài tới 1-2-3 tháng trong năm, nhất là thời kỳ giáp hạt.
Hoặc nếu đo lượng calo thì thiếu đói (Thiếu ăn) là tình trạng con người ăn chỉ ở mức 1500 calo/ngày, dưới mức đó là đói gay gắt. [15] Tiếp đến là khái niệm nghèo. Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với nghèo kh. nghèo túng, túng thiếu.
Trong hoàn cảnh nghèo, người nghèo và hộ nghèo phải vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế - vật chất, tu hiện trực tiếp nhất các nhu cầu về văn hoá - tinh than hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Đi này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em thất học, bỏ học, các hộ nông dân nghèo không có. khả năng để hưởng thụ văn hoá, chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua săm thêm quân áo cho nhu câu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu câu ở. là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người đân chỉ dành hầu như toàn.
bộ cho ăn, thậm chí không đủ chỉ cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp. chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kê.16] Trên cơ sở quan niệm về đói và nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương xứng đó là hộ đói và hộ nghèo. Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực hạn chế nên đòi hỏi phải tập trung ưu tiên giải quyết đói nghèo cho một số địa phương có điều kiện khó khăn nhất nên bên cạnh đó còn xác định xã nghẻo, huyện nghèo và vùng nghèo.
Xã nghèo, huyện nghèo và vùng nghèo Trong những năm qua, Việt Nam đã có một số cách phân loại nhằm chọn lọc ra một số xã khó khăn nhất (Tạm thời gọi là xã nghèo) đề tập trung XĐGN. Xã nghèo được xác định trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình 135 (CT 135). Uỷ ban Dân tộc (UBDT) sử dụng ngưỡng nghèo của Bộ Lao động TB & XH như một trong 5 tiêu chí dùng để xếp loại các xã đặc biệt khó khăn thuộc diện hỗ trợ của CT 135. Ngoài các xã được chọn theo tiêu chí về đói nghèo, UBDT tiến hành chọn lựa thêm một vòng nữa dựa trên tiêu chí là địa bàn vùng biên giới.
Ở vùng miền núi phía Bắc, các xã được chọn thêm không ảnh hưởng nhiều tới tông số xã vì trên thực tế ở các tỉnh đó phần lớn các xã này bao gồm cả các xã ở biên giới với Trung Quốc đã được lựa chọn theo tiêu chí xã nghèo. Có một điểm cần lưu ý đó là, việc xác định chính xác các xã này ở các huyện không giống nhau. Một số huyện tính các xã này trong danh sách khu vực III (Được chọn trên cơ sở đói nghèo/ thiếu CSHT) và các xã do UBDT chọn. Xã nghèo trong chương trình XĐGN.
Ngoài các xã nghèo thuộc CT135, chương trình XĐGN cũng xác định các xã nghèo để trực tiếp hỗ trợ, cụ thể là đầu tư CSHT Căn cứ vào xã nghèo tiếp tục xác định huyện nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. Trong đó, huyện nghèo và tỉnh nghèo được coi là huyện, tỉnh có nhiều xã nghèo, tỷ lệ đói nghèo cao, điều kiện phát triển kinh tế xã hội khó khăn. Vùng, nghèo là những vùng có nhiều tỉnh nghèo.