Luận văn Thạc sĩ: Chính sách xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích chính sách xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Kon Tum, đề xuất giải pháp hiệu quả cho phát triển bền vững.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế về chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, phân tích toàn diện hệ thống chính sách và thực tiễn triển khai tại một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn. Kon Tum, với đặc thù là vùng cao, biên giới, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, luôn xác định công tác giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Kon Tum. Việc nghiên cứu và đánh giá các chính sách đã thực hiện không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp giảm nghèo hiệu quả hơn trong tương lai. Trải qua các giai đoạn, từ những chính sách đơn lẻ ban đầu, Việt Nam đã xây dựng nên các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ. Tại Kon Tum, việc triển khai các chương trình này đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và cải thiện đáng kể đời sống người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, quá trình này cũng đối mặt với không ít thách thức, đòi hỏi phải có sự phân tích, đánh giá nghiêm túc để tìm ra những điểm bất cập và hướng đi phù hợp, hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

1.1. Vai trò của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo

Các chương trình mục tiêu quốc gia đóng vai trò nền tảng, định hướng cho toàn bộ hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Theo tài liệu nghiên cứu, các chương trình này được xây dựng qua nhiều giai đoạn, tiêu biểu là giai đoạn 1998-2000, 2001-2005 và 2006-2010. Mỗi giai đoạn đều có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp hơn với thực tiễn, chuyển dịch từ việc hỗ trợ trực tiếp sang tạo cơ hội để người nghèo tự vươn lên. Nội dung chính sách ngày càng toàn diện, không chỉ tập trung vào tăng thu nhập mà còn cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, và đảm bảo an sinh xã hội.

1.2. Cách tiếp cận chính sách giảm nghèo đa chiều tại Kon Tum

Kon Tum đã áp dụng cách tiếp cận chính sách giảm nghèo đa chiều, không chỉ đo lường đói nghèo qua thu nhập mà còn xét đến các khía cạnh thiếu hụt khác như nhà ở, nước sạch, giáo dục và thông tin. Cách tiếp cận này giúp xác định đúng đối tượng và nhu cầu của hộ nghèo, hộ cận nghèo, từ đó thiết kế các gói hỗ trợ phù hợp. Các chính sách được lồng ghép, kết hợp nhiều nguồn lực từ trung ương và địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp để tác động hiệu quả đến các nguyên nhân gốc rễ của đói nghèo, đặc biệt là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

II. Phân tích thực trạng đói nghèo và thách thức tại Kon Tum

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác xóa đói giảm nghèo tại Kon Tum vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Thực trạng đói nghèo của tỉnh mang những đặc điểm phức tạp, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, và trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Theo số liệu từ luận văn, Kon Tum là tỉnh có mật độ dân số thấp, kinh tế chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp, nên đời sống người dân còn nhiều bấp bênh và dễ bị tổn thương trước các biến động của thị trường và thiên tai. Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Kon Tum tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao so với trung bình cả nước, và tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại. Một trong những thách thức lớn là nguy cơ tái nghèo cao và sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư. Các yếu tố như trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, cơ sở hạ tầng kém phát triển là những rào cản cố hữu. Việc đánh giá tác động chính sách một cách toàn diện cho thấy cần có những giải pháp đột phá và bền vững hơn để giải quyết tận gốc vấn đề, thay vì chỉ tập trung vào các biện pháp hỗ trợ tạm thời.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hộ nghèo

Kon Tum có cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP. Giai đoạn 2006-2010, dù kinh tế tăng trưởng khá (trung bình 14,5%/năm), thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp. Lao động trong ngành nông lâm nghiệp chiếm tới 72,19% tổng số lao động, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào các hoạt động sản xuất có năng suất thấp và rủi ro cao. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng thoát nghèo của các hộ nghèo, hộ cận nghèo, đặc biệt là khi các khoản hỗ trợ ưu đãi cho tỉnh nghèo có xu hướng bị cắt giảm.

2.2. Những rào cản trong việc cải thiện đời sống người dân tộc thiểu số

Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn dân số Kon Tum và cũng là nhóm đối tượng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất. Đời sống người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn do các rào cản về địa lý, văn hóa và trình độ phát triển. Việc tiếp cận các dịch vụ công như giáo dục, y tế, thông tin pháp lý còn hạn chế. Các chính sách hỗ trợ dù đã được triển khai nhưng đôi khi chưa thực sự phù hợp với phong tục, tập quán và nhu cầu thực tế của người dân, dẫn đến hiệu quả chưa như mong đợi và tính bền vững không cao.

III. Phương pháp tiếp cận vốn vay ưu đãi cho người nghèo Kon Tum

Chính sách tín dụng ưu đãi được xem là một trong những công cụ quan trọng nhất trong công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Kon Tum. Mục tiêu chính của chính sách là cung cấp vốn vay ưu đãi cho người nghèo để họ có nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, từng bước cải thiện thu nhập và vươn lên thoát nghèo. Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) tỉnh Kon Tum là đơn vị trực tiếp triển khai chính sách này. Quy trình cho vay được thiết kế đơn giản, thuận tiện, phù hợp với điều kiện của người nghèo, không yêu cầu tài sản thế chấp. Nguồn vốn vay được sử dụng chủ yếu cho các hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt và các dịch vụ nhỏ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chính sách này đã giúp hàng ngàn hộ gia đình tiếp cận được nguồn vốn mà họ khó có thể có được từ các kênh tín dụng thương mại. Kết quả cho vay giai đoạn 2006-2010 cho thấy sự tăng trưởng cả về tổng dư nợ và số hộ được vay, mức vốn bình quân trên mỗi hộ cũng được cải thiện đáng kể, góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Kon Tum.

3.1. Quy trình và điều kiện vay vốn tại Ngân hàng Chính sách Xã hội

Quy trình cho vay được thực hiện thông qua mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn tại các thôn, bản. Quá trình bắt đầu từ việc bình xét hộ nghèo có nhu cầu vay vốn ở cấp thôn, sau đó tổng hợp và xét duyệt ở cấp xã, huyện trước khi NHCSXH thẩm định và giải ngân. Các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân đóng vai trò tín chấp, giúp tăng cường trách nhiệm và giám sát việc sử dụng vốn. Theo số liệu, hạn mức cho vay đã được điều chỉnh tăng dần qua các năm, từ 500.000 đồng năm 1995 lên đến 30 triệu đồng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất của người dân.

3.2. Đánh giá hiệu quả và những tồn tại của chính sách tín dụng

Mặc dù có tác động tích cực, chính sách tín dụng vẫn còn một số tồn tại. Vấn đề lớn nhất là việc xác định sai đối tượng, khi một tỷ lệ hộ không nghèo vẫn tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi, trong khi nhiều hộ thực sự nghèo lại chưa được vay. Bảng 2.8 của luận văn cho thấy "Mức độ sai lệch về đối tượng" năm 2010 là 5,6%. Nguyên nhân xuất phát từ sự cảm tính, nể nang trong quá trình bình xét ở cơ sở. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao do thiếu sự phối hợp với công tác khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật. Nhiều hộ vay vốn nhưng vẫn loay hoay với các mô hình sản xuất đơn điệu, rủi ro cao.

IV. Cách triển khai chính sách hỗ trợ nhà ở đất sản xuất

Bên cạnh tín dụng, chính sách hỗ trợ trực tiếp về nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt (thuộc Chương trình 134) là một hợp phần quan trọng của chính sách giảm nghèo đa chiều tại Kon Tum. Chính sách này hướng đến đối tượng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, nhằm giải quyết các nhu cầu cơ bản và tạo điều kiện nền tảng để họ ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất. Với phương châm “Nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ”, chính sách đã phát huy được nội lực của người dân và tinh thần đoàn kết trong cộng đồng. Việc hỗ trợ không chỉ mang giá trị vật chất mà còn có ý nghĩa tinh thần to lớn, giúp cải thiện đời sống người dân tộc thiểu số và củng cố niềm tin vào chủ trương của Đảng và Nhà nước. Kết quả thực hiện cho thấy, chương trình đã hỗ trợ cho hàng nghìn hộ gia đình xây dựng được nhà ở kiên cố, khang trang hơn, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và ổn định dân cư, đặc biệt tại các vùng khó khăn, biên giới.

4.1. Kết quả thực hiện hỗ trợ về nhà ở và nước sinh hoạt

Theo số liệu của luận văn, đến năm 2008, toàn tỉnh đã hỗ trợ nhà ở cho 7.623 hộ, đạt 96,8% kế hoạch. Đa số các căn nhà được xây dựng bằng vật liệu kiên cố, phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào, giúp họ an cư lạc nghiệp. Về nước sinh hoạt, chính sách đã hỗ trợ xây dựng các công trình cấp nước tập trung và hỗ trợ riêng lẻ cho các hộ phân tán, giải quyết được tình trạng thiếu nước sạch, cải thiện điều kiện vệ sinh và sức khỏe cho người dân. Sự thành công này cho thấy hiệu quả khi huy động được cả nguồn lực địa phương và sự tham gia của cộng đồng.

4.2. Khó khăn trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất

Trái ngược với thành công về nhà ở, việc hỗ trợ đất sản xuất gặp nhiều khó khăn và đạt kết quả rất thấp. Nguyên nhân chính là do quỹ đất của địa phương ngày càng hạn hẹp, trong khi mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách (5 triệu đồng/hộ) là quá nhỏ để một hộ gia đình có thể mua được đất sản xuất. Điều này dẫn đến việc chính sách khó đi vào thực tế. Đây là một điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ, bởi thiếu đất sản xuất là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến đói nghèo, khiến các nỗ lực hỗ trợ sản xuất nông nghiệp khác trở nên kém hiệu quả.

V. Bí quyết hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững Kon Tum

Để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững, việc hoàn thiện hệ thống chính sách là yêu cầu cấp thiết. Dựa trên kết quả đánh giá tác động chính sách, luận văn đã đề xuất nhiều giải pháp giảm nghèo hiệu quả cho Kon Tum trong giai đoạn tiếp theo. Trọng tâm của các giải pháp này là chuyển từ cách tiếp cận “cho không” sang hỗ trợ có điều kiện, nâng cao năng lực và trao quyền cho người nghèo để họ chủ động tham gia vào quá trình phát triển. Cần tăng cường sự phối hợp, lồng ghép giữa các chương trình, dự án trên cùng một địa bàn để tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Đặc biệt, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực địa phương, bao gồm cả ngân sách, đất đai và sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, là yếu tố then chốt. Thay vì chỉ tập trung vào hỗ trợ nông nghiệp, cần đa dạng hóa sinh kế, chú trọng tạo việc làm cho người lao động nông thôn thông qua đào tạo nghề và phát triển các ngành phi nông nghiệp, dịch vụ, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ.

5.1. Tăng cường công tác giám sát và nâng cao năng lực cán bộ

Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của chính sách là khâu tổ chức thực hiện. Cần xây dựng một cơ chế giám sát, đánh giá minh bạch và có sự tham gia của người dân. Quy trình kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện thường xuyên ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã để kịp thời phát hiện bất cập và điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Đồng thời, phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo, giúp họ nắm vững chính sách và có kỹ năng làm việc với cộng đồng, đặc biệt là với đồng bào dân tộc thiểu số.

5.2. Lồng ghép chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn

Các giải pháp giảm nghèo sẽ không bền vững nếu không gắn với việc tạo việc làm cho người lao động nông thôn. Cần lồng ghép chính sách giảm nghèo với các chương trình phát triển kinh tế, khuyến công, khuyến nông của tỉnh. Các dự án hỗ trợ sản xuất phải đi kèm với đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và kết nối với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Việc phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, tổ hợp tác sẽ giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo liên kết sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường, từ đó tạo ra thu nhập ổn định và bền vững.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính sách xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu trong ba chương. Cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo. Phân tích kết quả thực hiện và đánh giá các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bản tỉnh Kon Tum. Hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Kon Tum đến năm 2015.

CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÓA DOI GIAM NGHEO 1.1, QUAN NIEM VE DOI NGHEO VA VAI TRO CUA CHINH QUYEN DOI VOI XOA DOI GIAM NGHEO 1. Quan niệm về đói nghèo. Quan niệm về đói nghèo của các nước và các tô chức quốc tế Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về nghèo đói khác nhau. Nhà kinh tế học người Mỹ (GalBraith) chia sẻ: “Con người bị coi là nghèo khỏ khi mà thu nhập của họ ngay dù khi thích đáng để họ tôn tại.

rơi xuống rồ rệt dưới mức thu nhập của cộng đông. Khi đó không thể có những gì mà đa số cộng đông coi như cái cần thiết tối thiêu để sống một cách đúng mức ”.32] Hội nghị thượng đinh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tắt cả những ai mà thu nhập tháp hơn 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ đề mua những sản phẩm thiết yếu để tôn tại ” [17, tr. Tuy nhiên cách xác định (Cách tiế cân) này chỉ được sử dụng như một tiêu chí tham khảo giản đơn đề hình dung về tình hình nghèo đói trên thế giới mà ít được sử dụng làm cơ sở xây dựng chính sách, giải pháp giảm nghèo. Quan niệm nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của tiến sĩ A.

Quan điểm này nhìn nhận vấn đề nghèo đói toàn hơn bởi xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung, người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống mà rõ rằng người giàu có nhiều cơ hội lựa chọn hơn, người nghèo thì ít cơ hội lựa chọn hơn. Cùng với xu hướng phát triển chung của nhân loại, quan niệm về nghẻo đói được mở rộng hơn và không bị bó hẹp riêng dưới góc độ kinh tế, nhiều tổ chức phát triển đã gắn thêm những giá trị về nhân quyền, sự tham gia, dân chủ, trao quy: đẳng giới, bảo vệ môi trường. vào phạm trù nghèo đói. Sẽ không công bằng nếu nghiên cứu đưa ra các quan điểm, định nghĩa về nghèo đói từ các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức mà lại không lắng nghe quan điểm nhận, xét của chính đối tượng.

Thực tế, quan niệm từ chính người nghèo ở Việt Nam về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn. Một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân miền núi, họ nói rằng: “Nghéo đói là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì”, hay “Nghèo đói là nắng thì trong nhà cũng nhìn thấy mặt trời, mưa thì trong nhà cũng như ngoài s Một người dân Hà Tinh tra | “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo đột nát, không đủ đất đai sản xuất, không có trâu, bò, không có tiv, con cái thất học, ấm đau không có tiễn đi khám chữa bệnh. Tóm lại, cho dù tiếp cận nghèo đói theo quan điểm nào về cơ bản các quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo và được gắn liền với yếu tố khong gian, thời gian, đó là: Thứ nhất, người nghèo không được đáp ứng nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. Thứ hai, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.

Thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu này, sử dụng khái niệm nghèo đói sau: “Nghéo đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu câu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quản của từng vùng và những phong tục tập quán ấy được xã hội thừa nhận” [L7, tr. Khái niệm này tương tự với khái niệm đã được thống nhất cao tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (Tháng 9 năm 1993). Điểm khác duy nhất được điều chỉnh là được thỏa mãn thay vì có khả năng thỏa mãn.

Quan niệm về đói nghèo của Chính phủ Việt Nam a. Quan niệm đói nghèo của Chính phú Việt Nam Cũng như các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác XĐGN. Chính vì vậy, thời gian qua chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động này cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc thống nhất quan m đói nghèo của Việt Nam cũng được xác định là một vấn đề cần được quan tâm.

Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú. Nó được thay đổi và ngày một gần với quan niệm đói nghèo của thế giới. Ban đầu với chia đói nghèo. thành đói và nghèo.

Trên cơ sở đó, có người đói và nghèo, hộ đói và nghẻo, xã nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. Căn cứ xác định đói hay nghèo là những nhu cầu cơ bản con người không được hưởng và thoả mãn. Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Theo đó, sự đói nghèo tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là tình trạng con người không có ăn, ăn không đủ lượng đinh dưỡng tối thiểu, sự đứt đoạn trong nhu cầu ăn.

Nói một cách khác, đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Đói lại được chia ra làm đói gay gắt kinh niên và đói gay gắt cấp tính. Trong đó, đói gay gắt kinh niên là tình trạng thiếu ăn thường xuyên. Nếu con người trong những hoàn cảnh đột xuất, bất ngờ do thiên tai bão lụt, mất mùa, bệnh tật, rơi vào cùng cực, không có gì để sống, không có đủ lương thực, thực phẩm để ăn, có thể dẫn tới cái chết thì đó là trường.

hợp đói gay gắt cấp tính. Dù ở dạng nào thì đói đều đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, dễ thấy nhất là ở trẻ em và phụ nữ. Có thể hình dung tình trạng đói, thiếu đói ở các hộ gia đình nông dân hoặc một bộ phận dân cư phải sống dưới mức tối thiêu như đã nói trên qua động thái các bữa ăn trong ngày của họ. Có máy biểu hiện: Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no; Đứt bữa: Ngày chỉ ăn một bữa hoặc bữa cơm, bữa cháo hoặc cả hai bữa đều không đủ năng lượng tối thiểu chứ chưa nói tới chất dinh dưỡng cần thiết; Đứt bữa kéo dài tới 1-2-3 tháng trong năm, nhất là thời kỳ giáp hạt.

Hoặc nếu đo lượng calo thì thiếu đói (Thiếu ăn) là tình trạng con người ăn chỉ ở mức 1500 calo/ngày, dưới mức đó là đói gay gắt. [15] Tiếp đến là khái niệm nghèo. Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với nghèo kh. nghèo túng, túng thiếu.

Trong hoàn cảnh nghèo, người nghèo và hộ nghèo phải vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế - vật chất, tu hiện trực tiếp nhất các nhu cầu về văn hoá - tinh than hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Đi này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em thất học, bỏ học, các hộ nông dân nghèo không có. khả năng để hưởng thụ văn hoá, chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua săm thêm quân áo cho nhu câu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu câu ở. là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người đân chỉ dành hầu như toàn.

bộ cho ăn, thậm chí không đủ chỉ cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp. chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kê.16] Trên cơ sở quan niệm về đói và nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương xứng đó là hộ đói và hộ nghèo. Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực hạn chế nên đòi hỏi phải tập trung ưu tiên giải quyết đói nghèo cho một số địa phương có điều kiện khó khăn nhất nên bên cạnh đó còn xác định xã nghẻo, huyện nghèo và vùng nghèo.

Xã nghèo, huyện nghèo và vùng nghèo Trong những năm qua, Việt Nam đã có một số cách phân loại nhằm chọn lọc ra một số xã khó khăn nhất (Tạm thời gọi là xã nghèo) đề tập trung XĐGN. Xã nghèo được xác định trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình 135 (CT 135). Uỷ ban Dân tộc (UBDT) sử dụng ngưỡng nghèo của Bộ Lao động TB & XH như một trong 5 tiêu chí dùng để xếp loại các xã đặc biệt khó khăn thuộc diện hỗ trợ của CT 135. Ngoài các xã được chọn theo tiêu chí về đói nghèo, UBDT tiến hành chọn lựa thêm một vòng nữa dựa trên tiêu chí là địa bàn vùng biên giới.

Ở vùng miền núi phía Bắc, các xã được chọn thêm không ảnh hưởng nhiều tới tông số xã vì trên thực tế ở các tỉnh đó phần lớn các xã này bao gồm cả các xã ở biên giới với Trung Quốc đã được lựa chọn theo tiêu chí xã nghèo. Có một điểm cần lưu ý đó là, việc xác định chính xác các xã này ở các huyện không giống nhau. Một số huyện tính các xã này trong danh sách khu vực III (Được chọn trên cơ sở đói nghèo/ thiếu CSHT) và các xã do UBDT chọn. Xã nghèo trong chương trình XĐGN.

Ngoài các xã nghèo thuộc CT135, chương trình XĐGN cũng xác định các xã nghèo để trực tiếp hỗ trợ, cụ thể là đầu tư CSHT Căn cứ vào xã nghèo tiếp tục xác định huyện nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. Trong đó, huyện nghèo và tỉnh nghèo được coi là huyện, tỉnh có nhiều xã nghèo, tỷ lệ đói nghèo cao, điều kiện phát triển kinh tế xã hội khó khăn. Vùng, nghèo là những vùng có nhiều tỉnh nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ