Chương 1 NHUNG VAN ĐÈ CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI. 'VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Khái niệm bảo trợ xã hội Tính phô biến của thuật ngữ “Bảo trợ xã hội” có thê thấy qua các tài liệu thảo.
chính sách gần đây. Tuy vậy, chỉ mới gần đây BTXH mới được nhắc đến rộng ở các nước đang phát triển. Khái niệm này vẫn còn mơ hỗ, chưa có một khái niệm thống nhất và phân định rõ ràng đối với “Bảo trợ xã hội” chủ yếu là do cách định nghĩa, cách giải thích và tiếp cận khác nhau. BTXH là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực ASXH.
Theo nghĩa thông thường, BTXH được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thành viên trong công đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phâm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng. BTXH còn được hiểu là trợ giúp các đối tượng xã hội hay cứu trợ xã hội, là nhu cầu khách quan của mọi xã hội. Khi mà một bộ phận thành viên trong xã hội không đủ khả năng tự bảo đảm cuộc sống; Nhà nước, cộng đồng và gia đình có trách nhiệm bảo đảm an toàn cuộc sống cho họ, tạo cơ hội cho họ phát triển và hoà nhập cộng đồng [14].
Theo Ngân hàng thế giới: "Bảo trợ xã hội là tập hợp các can thiệp của Nhà nước nhằm mục đích hỗ trợ những thành viên nghẻo hơn và dễ tổn thương hơn trong xã hội, cũng như giúp đỡ những cá nhân, gia đình và cộng đồng quản lý rủi ro” [16, tr. Qua các cuộc thảo luận về chủ đề BTXH cũng như về các hoạt động của Chính phủ trong lĩnh vực này, Ngân hàng thể giới đã đưa ra định nghĩa BTXH là (¡) sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và dé bị tổ thương, (ii) BHXH và (iii) 10 các hoạt động khác nhằm làm giảm tính dễ bị tốn thương gây ra bởi những nguy cơ. như thất nghiệp, tuôi già và khuyết tat. đây có thể được xem là định nghĩa bao quát, được các chuyên gia nghiên cứu va các cán bộ công tác trong lĩnh vực BTXH không.
Trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thỏi, yếu thế hoặc hằng hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình[ 15,Tr.62] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật, có tính chất khân thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường. ngày của bản thân và gia đình[ 15,Tr.61] BTXH được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới đỡ ASXH. Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mang tính nhân đạo, nhân van rat cao, thê hiện tình người rõ rệt. Tuy nhiên, hoạt động BTXH không chỉ là của cá nhân, tổ chức bắt kỳ trong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước.
Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động BTXH, với tư cách là đại diện của xã hội. Các chính sách, pháp luật về BTXH do Nhà nước ban hành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tô chức, cơ quan, cá nhân tiền hành các hoạt động BTXH, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng, minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của BTXH An sinh xã hội: Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: 4SXff là sự bảo vệ của xã hội đổi với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nan lao động, thắt nghiệp, thương. tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm báo các chăm sóc y tế và trợ cắp cho các gia đình đông con [3] " Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, BTXH, an ninh xã hội, an toàn xã hội. với những ý nghĩa không hoàn toàn tương.
Theo nghĩa chung nhất, Social Seeurity là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già. Theo nghĩa này thì tầm “bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống. thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mắt thu nhập.
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mát việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mỗ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ. ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái nigm Social Security nay. Bén canh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH [9],[10]. Nhu vay, vé mat ban chat, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống.
cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. “đề 12 BTXH là một nội dung thiết yếu trong chính sách xã hội, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, nơi chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh.
Ngoài ra những rủi ro của thiên nhiên và của sự chuyển đôi sang cơ chế kinh tế thị trường, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miễn, giữa các nhóm dân cư. đã nâng tầm ý nghĩa quan trọng của lĩnh vực bảo trợ xã hội trong việc hoạch định và thực thi chính sách phát n kinh tế - xã của thành. Việc dành các nguồn lực cho BTXH và những thành tựu đạt được đã chứng tỏ sự nỗ lực lớn của các ngành, các cắp quản lý và của cộng đồng. Tuy nhiên trước.
mắt và lâu dài cũng vẫn còn những khó khăn và vấn đề cần phải giải quyết [2] Một số khái niệm liên quan: Người cao tuổi: Người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi Việt Nam là những người đủ từ 60 tuổi đối với Nam, đủ từ 55 tuổi đối với Nữ. Người tàn tật là người bị khuyết tật một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới dạng những tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, kiến cho hoạt động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn (theo điều 1, Pháp lệnh người cao tuổi). Nội dung bảo trợ xã hội BTXH hay trợ giúp xã hội có những nội dung và hình thức ở các mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào tình trạng nguy kịch nhiều hay ít, có tính tạm thời hay lâu dai, hoàn cảnh của bản thân và gia đình họ trong quan hệ của cứu trợ xã hội. Do vậy tuỳ theo tính chất và mức độ mà người ta phân biệt trợ giúp thường xuyên hay trợ giúp.
~ Bảo trợ thường xuyên là hình thức trợ giúp xã hội bằng tiền hoặc bằng hiện vật mà Nhà nước định ra đề trợ cấp đối với những người hoàn toàn không thể tự lo. được cuộc sống trong một thời gian dai (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuuộc đời của đối tượng được trợ giúp. ~ Trợ giúp đột xuất (một lần) là hình thức trợ giúp do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác mà đời sống ccủa họ bị de doạ về lương thực, nhà ở, chưa bệnh, chôn chất và phục hồi 13 sản xuất nêu không có sự giúp đỡ khân cấp [8] 'Với cách thức phân loại BTXH như trên, đối tượng BTXH cũng chia thành 2 loại: ~ Đối tượng bảo trợ thường xuyên là những người không may gặp rủi ro, bắt hạnh, gặp khó khăn trong cuộc sống, mà người ta thường nói là nhóm người thiệt thỏi, yếu thế như người già cô đơn, trẻ em mỗ côi, người tin tật, người mãn tính, người lang thang xin ăn. cần có sự trợ giúp vật chất và tỉnh thin để đảm.
bảo cuộc sống, không phân biệt vị thế và thành phần xã ủa họ. - Đối tượng trợ giúp đột xuất là những người hoặc hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bắt khả kháng khác, như hộ gia đình có người chết, mắt tích; hộ gia đình có nhà bị đồ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng, hộ gia đình mắt phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh bị thiếu đói, người bị thương nặng, người thiểu đói do giáp hạt, người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú mả bị thương nặng hoặc bị chết, gia đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng, người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú. Sự cần thiết, vai trò, ý nghĩa của bảo trợ xã hội 1.1 Sự cần thiết phải thực hiện Bảo trợ xã hội ở Việt Nam Xuất phát từ tính tắt yếu và sự cần thiết của hệ thống ASXH đề giải quyết tốt nhất 2 lý do: Một là, nhu cầu tự nhiên của con người: Con người sinh ra có quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc, trong đó có quyền được bảo vệ. Hệ thống ASXH với hàng loạt các chính sách trong đó có BTXH có chức năng hạn chế tính tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách nhằm giúp các thành viên trong xã hội ôn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng hoặc đảm bảo cho họ có mức.
sống tối thiểu, không rơi vào cảnh bần cùng hoá hoặc loại trừ xã hội.