Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 - 2010 đã ghi nhận những bước tiến vượt bậc về kinh tế với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội bình quân đạt trên 11% mỗi năm. Quy mô kinh tế tăng nhanh từ 12.865,1 tỷ đồng năm 2006 lên mức 20.974,965 tỷ đồng vào năm 2010, đóng góp 1,5% vào tổng sản phẩm quốc nội của cả nước. Thu nhập bình quân đầu người theo đó tăng hơn hai lần, từ 16,225 triệu đồng năm 2006 lên 33,2 triệu đồng năm 2010, gấp 1,6 lần mức bình quân chung của cả nước. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng khi tỷ lệ dân cư đô thị chiếm tới 86,86% với 773.470 người trên tổng dân số 890.490 người năm 2009, địa phương phải đối mặt với nhiều mặt trái xã hội gay gắt. Tình trạng nông dân mất đất sản xuất, phân hóa giàu nghèo sâu sắc, kèm theo gánh nặng từ 8 đến 10 cơn bão đổ bộ trung bình mỗi năm và di chứng nặng nề của chiến tranh đã làm gia tăng số lượng đối tượng yếu thế. Thống kê giai đoạn này ghi nhận toàn thành phố có 214.033 trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó 26.556 trẻ thuộc hộ nghèo và 2.063 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội vững chắc, bảo đảm đời sống cho các nhóm yếu thế trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Huỳnh Văn Thắng tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng ban hành và thực thi chính sách bảo trợ xã hội tại thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2010. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và mô hình dự báo nhu cầu bảo trợ đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chương trình thành phố 5 không và chương trình 3 có, hướng tới mục tiêu mở rộng độ bao phủ trợ cấp xã hội vượt mức 1,5% dân số, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết mạng lưới an sinh xã hội của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế, kết hợp với lý thuyết công bằng xã hội trong kinh tế học phát triển. Các lý thuyết này xác định bảo trợ xã hội là hệ thống các biện pháp can thiệp công cộng của Nhà nước và cộng đồng nhằm bảo vệ các thành viên xã hội trước những rủi ro suy giảm hoặc mất thu nhập do bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, già yếu hoặc thiên tai. Trong hệ thống an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ưu đãi người có công, bảo trợ xã hội giữ vai trò là tấm lưới đỡ cuối cùng ngăn chặn tình trạng bần cùng hóa.

Khung phân tích của đề tài vận hành thông qua hệ thống 5 khái niệm trọng tâm:

  1. Bảo trợ xã hội thường xuyên: Hình thức trợ cấp tiền mặt hoặc hiện vật hàng tháng do Nhà nước chi trả cho đối tượng mất hoàn toàn khả năng tự bảo đảm cuộc sống lâu dài.
  2. Trợ giúp xã hội đột xuất: Các biện pháp cứu trợ khẩn cấp bằng tiền mặt hoặc lương thực cho cá nhân, hộ gia đình gặp sự cố bất khả kháng như bão lũ, hỏa hoạn, mất phương tiện sản xuất.
  3. Cơ sở bảo trợ xã hội: Hệ thống trung tâm tập trung công lập nuôi dưỡng, chăm sóc đối tượng đặc biệt khó khăn như Trung tâm Bảo trợ xã hội, Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần.
  4. Mức chuẩn trợ cấp xã hội: Căn cứ tiền tệ được điều chỉnh qua các thời kỳ, từ mức 24.000 đồng/tháng giai đoạn đầu lên 120.000 đồng/tháng theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP và 180.000 đồng/tháng theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP.
  5. Chỉ tiêu mức độ bao phủ trợ giúp xã hội: Tỷ lệ phần trăm giữa số người nhận trợ cấp xã hội thực tế so với tổng số đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội trong cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Niên giám Thống kê thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2009, Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, hệ thống 18 văn bản luật và nghị định Trung ương cùng hơn 270 văn bản hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành từ năm 2006 đến năm 2010. Dữ liệu sơ cấp được bổ sung qua phương pháp chuyên gia với đội ngũ cán bộ ngành Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu, luận văn thực hiện khảo sát toàn diện trên 100% địa bàn hành chính thành phố gồm 6 quận và 2 huyện với 56 xã, phường, bao quát toàn bộ 214.033 trẻ em dưới 16 tuổi, các nhóm người cao tuổi cô đơn, người tàn tật nặng và người tâm thần phân liệt tại cộng đồng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn đô thị và nông thôn được lựa chọn nhằm phản ánh sự chênh lệch mức sống giữa khu vực nội thành chiếm 86,86% dân số và ngoại thành chiếm 13,14% dân số.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm thống kê mô tả, phân tích tổng hợp chỉ số tài chính, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp hồi quy theo nguyên lý bình phương bé nhất. Việc lựa chọn phương pháp hồi quy tuyến tính bình phương bé nhất là tối ưu để ước lượng chính xác xu hướng biến động và dự báo quy mô các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội nhận trợ cấp thường xuyên trên địa bàn thành phố đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thành phố Đà Nẵng đã thể hiện tính chủ động và đột phá chính sách vượt trội so với quy định chung của Trung ương. Thành phố đã cụ thể hóa các quy định bằng việc ban hành Quyết định 21/2010/QĐ-UBND, áp dụng mức chuẩn trợ cấp thường xuyên bằng 150% mức quy định của Trung ương theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP, nâng mức trợ cấp cơ bản từ 180.000 đồng lên 270.000 đồng mỗi tháng. Ngoài ra, thành phố ban hành Quyết định 24/2010/QĐ-UBND trợ cấp riêng cho bộ đội xuất ngũ mắc bệnh tâm thần với mức 300.000 đồng/người/tháng.

Thứ hai, áp lực gia tăng đối tượng bảo trợ xã hội gắn liền với quá trình đô thị hóa và dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Mật độ dân số thành phố tăng vọt từ 535 người/km² năm 1997 lên 708 người/km² năm 2009. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh với khu vực dịch vụ chiếm 50,5% và công nghiệp - xây dựng chiếm 46,5% GDP năm 2010, trong khi nông nghiệp chỉ còn chiếm 3,0%. Quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi nghề nghiệp khiến hàng nghìn lao động nông thôn rơi vào tình trạng thiếu việc làm, làm tăng nguy cơ tổn thương kinh tế.

Thứ ba, nguồn lực tài chính thực hiện bảo trợ xã hội vẫn phụ thuộc áp đảo vào ngân sách nhà nước, trong khi nguồn lực xã hội hóa chưa được khai thác tương xứng. Mặc dù vốn đầu tư phát triển của thành phố tăng bình quân 18,3%/năm, mức chi ngân sách cho bảo trợ xã hội vẫn chịu áp lực lớn. Mức trợ cấp dù đã qua 5 lần điều chỉnh tăng từ 33.000 đồng lên các mức cao hơn nhưng vẫn thấp hơn chuẩn nghèo đô thị, khiến chất lượng nuôi dưỡng tại các cơ sở tập trung với định mức 360.000 đồng đến 450.000 đồng/tháng gặp nhiều thách thức trước biến động lạm phát.

Thứ tư, công tác trợ giúp đột xuất đã đáp ứng kịp thời thiệt hại do thiên tai bão lũ thường niên từ 8 đến 10 cơn bão mỗi năm. Hỗ trợ khẩn cấp đối với các hộ gia đình có nhà sập, trôi đạt từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/hộ, hỗ trợ mai táng 4.000.000 đồng/người chết và trợ cấp cứu đói kịp thời 15kg gạo/người/tháng trong thời gian từ 1 đến 3 tháng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và yêu cầu mở rộng phúc lợi xã hội. Đà Nẵng đã đạt tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người ấn tượng đạt 33,2 triệu đồng/năm vào năm 2010, tạo nền tảng ngân sách vững vàng để triển khai các đề án an sinh mang đậm dấu ấn riêng như chương trình thành phố 5 không và chương trình 3 có. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hay Đồng bằng sông Hồng, Đà Nẵng vượt trội về tính tiên phong trong việc nâng cao hệ số trợ cấp nhưng gặp bất lợi lớn về điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và di chứng chiến tranh.

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng mô tả sự gia tăng số lượng đối tượng bảo trợ thường xuyên tại cộng đồng từ năm 1997 đến 2009, kết hợp bảng thống kê phân bổ kinh phí trợ cấp theo 9 nhóm thụ hưởng tại 56 xã, phường. Dữ liệu bảng cho thấy nhóm người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu và nhóm người tàn tật nặng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng quỹ chi trả thường xuyên. Tuy nhiên, sự chênh lệch tiếp cận dịch vụ vẫn tồn tại khi tỷ lệ dân cư dùng nước sạch ở khu vực nông thôn mới đạt 70%, thấp hơn đáng kể so với mức gần 100% tại các quận nội thành.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cần điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội thường xuyên tiệm cận 100% chuẩn nghèo đô thị trong giai đoạn 2011 - 2015, nâng mức hỗ trợ nuôi dưỡng tại các trung tâm từ 450.000 đồng lên tối thiểu 750.000 đồng/tháng vào năm 2015 nhằm bù đắp trượt giá thị trường.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua xã hội hóa công tác an sinh. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố xây dựng cơ chế ưu đãi thuế để thu hút các doanh nghiệp tại 5 khu công nghiệp tham gia đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa và quỹ bảo trợ trẻ em, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp từ các nguồn lực xã hội ngoài ngân sách đạt 25% đến 30% tổng chi phí bảo trợ vào năm 2020.

Thứ ba, nâng cấp cơ sở hạ tầng mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội và phát triển dịch vụ nghề nghiệp. Thành phố cần đầu tư mở rộng Trung tâm Bảo trợ xã hội và Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần, bảo đảm 100% đối tượng tâm thần mãn tính có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp nhận chăm sóc; đồng thời tổ chức các lớp dạy nghề phù hợp cho tối thiểu 80% người khuyết tật còn khả năng lao động trước năm 2018.

Thứ tư, hiện đại hóa quy trình quản lý và xây dựng cơ sở dữ liệu đối tượng bảo trợ. Ủy ban nhân dân các quận, huyện cần chỉ đạo 56 xã, phường thực hiện số hóa 100% hồ sơ quản lý đối tượng thụ hưởng trong giai đoạn 2012 - 2015, áp dụng phần mềm quản trị thông tin để chi trả trợ cấp đúng hạn, công khai, minh bạch và loại trừ tình trạng trùng lặp đối tượng thụ hưởng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính và Ủy ban nhân dân các cấp: Cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về việc vận dụng linh hoạt các nghị định Trung ương để ban hành chính sách bảo trợ xã hội đặc thù cấp địa phương, tối ưu hóa phân bổ ngân sách.

  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công, Xã hội học và Công tác xã hội: Cung cấp tài liệu học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu an sinh xã hội, công thức đo lường độ bao phủ trợ cấp và kỹ thuật ứng dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất trong dự báo đối tượng yếu thế.

  3. Các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện và các nhà tài trợ quốc tế: Sử dụng bức tranh dữ liệu chi tiết về 9 nhóm đối tượng yếu thế tại Đà Nẵng với 26.556 trẻ em nghèo và hàng nghìn người khuyết tật để xây dựng các dự án tài trợ phát triển cộng đồng có địa chỉ chính xác.

  4. Ban giám đốc và cán bộ chuyên môn tại các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà dưỡng lão và cơ sở điều dưỡng: Tham khảo các tiêu chuẩn định mức chi phí sinh hoạt từ 360.000 đồng đến 450.000 đồng/tháng, quy trình chăm sóc y tế và mô hình phục hồi chức năng lao động cho người yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách bảo trợ xã hội của thành phố Đà Nẵng có điểm gì vượt trội so với quy định chung của Trung ương? Thành phố đã ban hành Quyết định 21/2010/QĐ-UBND áp dụng mức trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng bằng 150% mức chuẩn của Trung ương quy định tại Nghị định 13/2010/NĐ-CP. Đồng thời, địa phương chi trả chế độ đặc thù 300.000 đồng/tháng cho bộ đội xuất ngũ bị tâm thần theo Quyết định 24/2010/QĐ-UBND và triển khai chương trình thành phố 5 không mang tính nhân văn sâu sắc.

Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ tại cộng đồng được tính theo công thức nào? Mức trợ cấp hàng tháng bằng mức chuẩn trợ cấp xã hội nhân với hệ số tương ứng của từng đối tượng theo quy định. Hệ số dao động từ 1,0 đối với người cao tuổi cô đơn dưới 85 tuổi hoặc trẻ em mồ côi từ 18 tháng tuổi trở lên, đến hệ số 1,5 hoặc 2,0 đối với người tàn tật nặng không thể tự phục vụ và trẻ em dưới 18 tháng tuổi khuyết tật hoặc nhiễm HIV/AIDS.

Đô thị hóa nhanh chóng tác động như thế nào đến công tác bảo trợ xã hội tại Đà Nẵng? Quá trình đô thị hóa làm gia tăng mật độ dân số lên 708 người/km² năm 2009 và tỷ lệ dân cư đô thị đạt 86,86%. Việc thu hồi đất canh tác khiến nông dân mất tư liệu sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn, làm phát sinh thêm các nhóm yếu thế mới và đặt áp lực lớn lên mạng lưới cứu trợ xã hội của 56 xã, phường.

Nguồn tài chính bảo đảm cho công tác cứu trợ đột xuất tại địa phương được hình thành từ đâu? Kinh phí cứu trợ đột xuất được cân đối trực tiếp từ ngân sách nhà nước hàng năm, quỹ dự phòng ngân sách địa phương, nguồn dự trữ quốc gia, kết hợp sự huy động đóng góp từ Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ, các tổ chức từ thiện và kiều bào trong các đợt thiên tai với trung bình 8 đến 10 cơn bão mỗi năm.

Luận văn sử dụng phương pháp nào để dự báo số lượng đối tượng bảo trợ xã hội đến năm 2020? Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính theo nguyên lý bình phương bé nhất dựa trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 1997 - 2009. Mô hình ước lượng các tham số xu hướng của các nhóm đối tượng chính như người tàn tật, người già neo đơn để đưa ra kết quả dự báo quy mô bảo trợ thường xuyên đến năm 2020.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo trợ xã hội và an sinh xã hội, khẳng định bảo trợ xã hội là tấm lưới đỡ an toàn cuối cùng bảo vệ các nhóm yếu thế trong nền kinh tế thị trường.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng thực thi chính sách tại Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2010, chỉ rõ thành công của việc ban hành mức trợ cấp vượt khung 150% so với Trung ương và các mô hình an sinh tiến bộ như chương trình 5 không, 3 có.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn cốt lõi về sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, mức trợ cấp chưa theo kịp lạm phát và áp lực gia tăng đối tượng do đô thị hóa và thiên tai thường niên.
  • Xây dựng mô hình dự báo khoa học về số lượng đối tượng cần bảo trợ thường xuyên và đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về thể chế, tài chính, cơ sở vật chất và công nghệ đến năm 2020.
  • Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu kinh tế phát triển và các tổ chức xã hội đang hoạt động trong lĩnh vực an sinh. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào việc xây dựng đề án an sinh xã hội địa phương giai đoạn mới.