Chương I - Một số vấn đề cơ bản về thu hút vốn đầu tư Chương 2 - Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệpở tỉnh Quảng Nam Chương 3 - Các gi pháp thu hút vin đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Quảng Nam hiện nay CHUONG 1 MOT SO VAN DE CO BAN VE THU HUT VON DAU TU 1. Những vấn đề chung về vốn đầu tư 1. Khái niệm về vốn dau tw Qua tìm hiểu được biết cho đến nay chưa có một định nghĩ: bằng văn bản chính thức của Nha nude vé von. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình của các học viện, các trường đại học thuộc khối kinh tế có rất nhiều khái niệm về vốn dưới góc độ phân loại thành: vồn có định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính.
Trong đó, xét một cách tông hợp để đưa ra khái niệm về vốn đầu tư như sau: Von đầu t là một bộ phận của nguôn lực biểu hiện dưới dạng giá trị của các tài sản quốc gia được thẻ hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình nhằm sử dụng vào mục đích đầu tư để sinh lời. [8] Các nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới được gọi là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng mới chỉ là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng tiềm năng. Để làm rõ khái niệm về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư dưới đây: Thứ nhất, vốn là yêu tô đầu vào, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, là một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và vô hình).
Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như: nhà xưởng, máy móc thết bị phương. tải, nguyên vật liệu. Tải sản vô hình l những tài sản không có hình thái vật chất cụ thé, tài sản vô hình rất phong phú và đa dạng như: vị trí kinh doanh, bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, uy tín trong kinh doanh, lối sống, phong tục tập quán. Như vậy một lượng tiền phát hành không vào lưu thông, không có giá trị đảm bảo hoặc các khoản nợ không có khả năng thanh toán cũng không thể được gọi là vốn.
Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn là tiền nhưng không phải mọi đồng tiền đều là vốn. Tiền chỉ là vốn ở dạng tiềm năng, khi nào chúng được dùng vào đầu wr kinh doanh thì chúng mới biến thành vốn. Tiền là phương tin để trao đôi, lưu thông hàng hóa còn vốn là để sinh lời, nó luôn chu chuyển và tuần hoàn.
Quá trình đầu tư à một quá trình vận động của vốn đầu tr. Cách vận động và phương thức vận động của tiền vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định. Ngoài sự phân biệt giữa vốn và tiền, cần phân biệt sr khác nhau giữa vốn và tài sản. Vốn là biểu hiện bằng tiền của một bộ phận tài sản, nhưng không phải mọi tài sản đều được gọi là vốn.
Tài sản có nhu loại: nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, có loại do thành quả lao động của con người sáng tạo ra; có loại là hữu hình, có bại là vô hình. Những tài sản đó nếu được giá trị hóa thành tiền và đưa vào đầu tư thì đều được gọi là vốn đầu tư. Thứ ba, vôn bao giờ cũng gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Chủ sở hữu vốn có thể là của một chủ, nhưng cũng có thể là nhiều chủ như các cổ đông là chủ sở hữu vốn trong các công ty cổ phần.
Tùy theo hình thức đầu tư mà người chủ sở hữu có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với người sử dụng vốn. Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, vì nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác. Giá trị sử dụng của vốn là đề sinh lời. Nhưng vốn là một loại hàng hóa đặc biệt khác với hàng hóa thông thường, ở chỗ người bán vốn không mắt đi quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng vốn mà thôi Người mua nhận được quyển sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhát định và phải trả cho người bán vốn một tỷ lệ nhất định tính trên số vốn đó, gọi là li suất.
Như vậy, Bi suất chính là giá cả của quyền sử dụng vốn. Việc mưa bán quyền sử dụng vốn được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dich và các công. cụ tài chính nhất định, là tông hòa các quan hệ cung và cầu về vốn.
Thị trường. tài chính là một bộ phận quan trọng nhắt, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa, góp phần thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội. Thứ năm, ở các thời điểm khác nhau giá trị của vốn cũng khác nhau, nên đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. Bởi lẽ, đồng tiền càng kéo dài theo thời gian thì nó càng bị mất giá và độ an toàn càng giảm.
Vì vậy, cần phải hiện tại hóa hoặc tương lai hóa giá trị của vốn đề làm cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả đầu tư. Thứ sáu, vốn phải được tích tụ và tập trung. Tích tụ vốn h việc tăng số vốn cá biệt của từng doanh nghiệp, từng hộ sản xuất. Tập trung vốn là làm tăng quy mô vốn trong toàn xã hội.
Có tích tu vốn mới có tập trung vốn; tập trung nhiều nguồn vốn để cung cấp nguồn vốn đầu tr cho toàn xã hội [S] 1. Khái niệm thu hút vẫn đầu tw Vai trò to lớn của vốn sản xuất trong nền kinh tế trong việc tạo ra hàng hóa dịch vụ và quyết định sự phát triển kinh É. Đã từ lâu chính quyền các địa phương đều rất nỗ lực đề thu hat dau tư vào địa phương mình. Thu hút vốn đầu tư là các hoạt động hay chính sách của chủ thể ở các địa phương hay lãnh thổ (như các cơ quan chính phủ hay chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư địa phương hay vùng lnh thổ) nhằm xúc tiến, kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện các dự án dau tr (thực hiện hoạt động đầu tr vốn) hình thành vốn sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội trên địa bàn của mình.
Thu hút lầu tư có nghĩa là làm gia tăng sự chú ý và quan tâm của các nhà đầu tư qua sự phát trên và xúc tiến các dự án đầu tr cụ thể có thể đem lại những lợi ích thương mại cho các nhà đầu tư Từ khái niệm vốn đầu tư nên thu hút vốn đầu tư ở đây được hiểu là thu hút vốn trực tiếp hay kết quả cuối cùng phải hình thành cơ sở sản xuất hàng. hóa và dịch vụ tong nền kinh tế [15] 1. Các nguồn vốn đầu tư có thể thu hút Nguồn vốn đầu tư phát trên của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên các nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, pháp hật. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng (tín dụng Nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu ar của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư).
Nguồn vốn ngoài nước gồm: đẳu tư trực tiếp, gián tiếp, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác. + Nguôn vỐn trong nước Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, xã hội với việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong nước có mối quan hệ rắt chặt chẽ; tăng trưởng. kinh tế, xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của các chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong nước. Vốn trong nước là toàn bộ những yếu tố cần thiết để cấu thành quá trình sản xuất, kinh doanh, được hình thành từ các nguồn lực kinh É và tích lũy được của các cá nhân, tập thể và Nhà nước nhằm đầu tr phát triển sản xuất.
Như vậy, các nhân tố cấu thành vốn trong nước bao gồm: Vốn tiền tệ, các dang cia cải vốn con người, trí tuệ, vốn tư liệu sản xuất, vốn thương higu.Trong d6 von tiền tệ B điểm xuất phát để chuyển hóa thành các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất cả số lượng và chat lượng, cũng như tạo m các năng lực sản xuất mới. * Nguồn von từ ngân sách Nhà nước: Với vai trò và chức năng của kinh tế Nhà nước ở bắt kỳ quốc gia nào cũng sử dụng ngân sách Nhà nước dé đầu tr phát triển kinh tế, xã hội. Trong nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongdi ng kinh tế, xã hội, nhằm tạo cơ sở để kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong những lĩnh vực kinh tế trọng yếu. Chỉ đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của ngân sích Nhà nước đề đầu tư xây dựng kết cấu hạ tằng kinh tế, xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ vật tư, hàng hoá.
nhằm bảo đảm các mục tiêu ôn định và tăng trưởng kinh tế. Ngân sách Nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách Nhà nước, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chỉ của ngân sách Nhà nước.
Thu của ngân sích Nhà nước được thực hiện chủ yếu là từ thuế, các khoản thu từ phí, lệ phí, thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu lợi tức cỗ phần Nhà nước và các khoản thu khác theo luật định.