Chương 1 NHỮNG VÁN DE CHUNG VE GIAM TINH TRANG TRE EM NGUOI DONG BAO DAN TOC THIEU SO BO HOC Chương này sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung có tình chất lý luận để làm cơ sở giải quyết vấn đề bỏ học của trẻ em nói chung, nhưng tập. trung vào nhóm yếu thế là con em đồng bào dân tộc thiểu số ở nông thôn Tây Nguyên. Những nội dung chủ yếu bao gồm sự cần thiết phải giải quyết tình trạng này, nội dung và tiêu chí, các nguyên nhân của tình trạng trẻ em bỏ học và các điều kiện đề thực hiện giảm tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học. Sự cần thiết phải giảm tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học và đặc điểm của đối tượng này 1.
Sự cần thiết phải giảm tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học Hiện tại ở các nước đang phát triển tình trạng trẻ em bỏ học đặc biệt là con em gia đình nhóm yếu thế như đồng bảo dân tộc ít người, người nghèo ở vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa đang là vấn đẻ lớn. Những vùng này nơi mà hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp nên hệ thống giáo dục chưa vươn tới hay chưa phát huy được vai trò của nó. Như đã biết giáo dục là quá trình đảo tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tô chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người. Giáo dục với đặc trưng chủ yếu của một loạt hoạt động xã hội như: Một là, đó là quá trình đào tạo con người, tác động đến sự phát triển của con người, hình thành những sức mạnh bản chất của con người, tác động đến sự phát triển của con người.
Hai là, đó không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình tự giác, có mục đích đã được ý thức trước. Ba là, đó là quá trình chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội (với những yêu cầu cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử), tham gia các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội mà lĩnh vực chủ yếu là lao động sản xuất. Bốn là, quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện, nhiều biện pháp khác nhau, song tắt cả đều phải nhằm tô chức người dạy, người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết được trong lịch sử xã hội loài người. [I1, 199] Hoạt động giáo dục giúp cho con người ta tăng được vốn con người và với vốn đó họ có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm có thu nhập đẻ phát triển.
Tuy nhiên quá trình này xét dưới góc độ kinh tế sẽ phải có chỉ phí nhất định để lợi ích thu được là vốn con người và những gì vốn này đem tới. Dưới góc độ xã hội những chỉ phí cho phát triển giáo dục đào tạo nhất là giáo dục phổ thông thấp hơn nhiều so với lợi ích xã hội nhận được [12, 144]. Các công, trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển đều chứng minh điều này và êu kết luận đã được rút ra trong đó đáng quan tâm nhất là kết luận cho rằng giáo dục cho trẻ em con các hộ gia đình nghẻo và nhóm yếu thế sẽ là cách xóa đói giảm nghèo bền vững nhất có thể. Trong nhiều năm, định đề cho rằng sự mở rộng giáo dục đã thúc đây hoặc thậm chí quyết định tốc độ tăng trưởng (GNP) đã được coi là hiển nhiên [ã1, 106].
Các nước chậm phát triển đã rất thiếu những nguồn nhân lực có ky năng bậc trung bình và bậc cao. Và người ta cho rằng chỉ có thể tạo ra được nhờ hệ thống giáo dục chính quy. Khi thiếu nguồn nhân lực này thì sẽ thiếu sự lãnh đạo để phát triển trong cả hai khu vực nhà nước và tư nhân. Khi không có những sự lãnh đạo, như vậy đề lập kế hoạch, quản lý và điều hành nền kinh tẾ, sự tăng trưởng có thể bị chậm lại.
Những con số thống kê và vô số những. công trình nghiên cứu về “nguồn tăng trưởng kinh tế" ở các nước phương Tây đã chỉ ra rằng, không phải sự tăng trưởng của vốn hiện vật mà là sự tăng trưởng của vốn con người đã là nguồn chính của sự tiến bộ ở các quốc gia đã phát triển [10, 90]. Sự bảnh trướng của giáo dục ở mọi cấp đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế tổng thể thông qua việc: (1) Tao ra một lực lượng lao động có năng suất cao hơn, có những hiểu biết và kỹ năng cao hơn; (2). Tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội kiếm được thu nhập cho các giáo viên, những người làm việc trong các trường học, những người xây dựng, những nhà in sách giáo khoa, những nhà sản xuất quần áo đồng phục học sinh.
Tạo ra một tầng lớp những người lãnh đạo có học vấn đề điền vào chỗ trống. trong các công sở của nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và trong những nghề khác; (4). Dường như tạo ra một dạng đảo tạo và giáo dục mà nó có thể thúc đẩy sự biết đọc, biết viết, biết tính toán và những kỹ năng cơ bản, đồng thời khuyến khích thái độ “hiện đại” trong các tầng lớp dân cư khác nhau [11, 207]. Cho dù sự so sánh về chỉ phí - lợi ích xã hội của những phương án đầu tư khác nhau vào kinh tế có thể tạo ra sự tăng trưởng kinh tế còn lớn hơn nữa, nếu có thể tính toán được như vậy, thì cũng không nên làm giảm giá trị những đóng góp quan trọng, cả về mặt kinh tế lẫn phi kinh tế, mà giáo dục có thể tạo ra và đã tạo ra cho sự tăng trưởng kinh tế tổng thẻ, vì rằng một lực lượng lao.
động có học vấn và có kỹ năng là điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế là điều không thê phủ nhận. t Nam, Bác Hồ đã nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Con người với tư cách là một trong bốn nguồn lực đẻ phát triển kinh tế phải được kinh qua giáo dục và đảo tạo. Bất cứ một quốc gia iên đều cũng phải coi trọng bồn yếu tố cơ bản của nguồn lực phát triển kinh tế (tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, khoa học công nghệ).
Song yếu tố tài nguyên là phụ thuộc vào thiên nhiên, nên không thể khắc phục bằng ý chí chủ quan; các yếu tố khác đều phụ thuộc vào trình độ và khả năng sáng tạo của con người [18, 10]. Con người được đào tạo là chủ thể của các yếu tố đó. Chính vì vậy, chiến lược về con người được Đảng ta xác định là trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội VI đã đặt ra những đòi hỏi bức xúc đối với sự nghiệp hình thành và phát triển con người - nhân tố quyết định sự thành công của quá trình đổi mới.
Đại hội lần thứ VII của Đảng đã xác định: “Đây mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển. Hội nghị Trung ương 2 khó VIII đã có nghị quyết về * Định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong. thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá”. Mục tiêu đến năm 2020, đất nước ta vượt qua nguy cơ tụt hậu đề trở thành một nước công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của giáo dục.
Do những lẽ đó mà việc giải quyết tình trạng trẻ em người đồng bảo dân tộc thiểu số nói chung và Tây Nguyên nói riêng bỏ học là rất cần thiết. Đây sẽ là cách thức để xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững cho. khu vực này. Các đặc điểm của người đồng bào dân tộc thiễu số bö học * Về Kinh tế Hoạt động kinh tế của đồng bào đa dạng và có nhiều loại hình khác nhau nhưng không khác nhau nhiều giữa các dân tộc.
Các hoạt động kinh tế ở đây mang tính chất của sản xuất truyền thống chủ yếu tự cắp, tự túc, sản xuất dựa vào khai thác thiên nhiên, mức đầu tư thấp cả về kỹ thuật cũng như sự chăm sóc của người dân, do vậy năng suất rất thấp và ít chú ý đến bảo vệ tài nguyên. Do vậy đã đẩy nhanh quá trình xói mỏn, rửa trôi và thoái hoá đất. Các hoạt động kinh tế chủ yếu là: Trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp như khai thác lâm sản, dệt. Phương thức chủ yếu là canh tác nương rẫy với các hoạt động phát, đốt cốt, trỉa và các công cụ sản xuất thô sơ, hoặc thả rông (với chăn nuôi gia súc).
Người dân hầu như không có khái 10 niệm về thị trường, một số gia đình vẫn đang sử dụng hình thức trao đổi bằng hiện vật, hoặc đôi khi vẫn còn xin, cho sản phẩm làm ra. Những phong tục này là một trong những yếu tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Tập quán quá chú trọng đến sản xuất lúa rẫy nhằm mục đích tự cung tự cấp đã dẫn đến sản xuất kém hiệu quả và làm tăng sự suy thoái tài nguyên. Hiện nay, do tác động của các chương trình, dự án phát triển cho Tây Nguyên, hoạt động kinh tế của người dân cũng đang có sự thay đổi.
Cơ sở hạ tầng giao thông thủy lợi, điện, trường học.đã cải thiện và khá hơn trước a Một số giống mới cây, con và các kỹ thuật mới đã được đưa vào sản xuất và đã có những tác động tích cực như tăng năng suất lao động, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bảo. Việc sản xuất các loại cây trồng. mới cũng đã giúp cho bà con có thêm kiến thức về luân canh, xen canh và bố trí cây trồng theo mùa vụ. Chăn nuôi là hoạt động có thay đổi nhiều nhất, phần lớn các hộ đã nuôi gia súc đã có chuồng trại, sử dụng các giống lai trong.
chăn nuôi, có ý thức trong phòng và trị bệnh cho gia súc và đặc biệt một số hộ đã trồng cỏ đề nuôi bò. Nói chung các hoạt động sản xuất nông nghiệp đã có những thay đổi nhất định do sự tác động của các chương trình, dự án trong thời gian gần đây. Tuy nhiên những thay đổi đó chưa được áp dụng trong toàn dân, một số hoạt động còn ở dạng các mô hình thử nghiệm, chưa được nhân rộng ra sản xuất.