PHẦN MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu chủ đề Điều hành công ty cổ phần (corporate governance), viết tắt là Điều hành công ty (“ĐHCT”), là những thủ tục về giám sát và kiểm soát được thực hiện để đảm bảo cho việc thực thi quản trị doanh nghiệp phù hợp với lợi ích của các cổ đông. ĐHCT đã xuất hiện ở các nước phát triển vào thế kỷ 19, và đến năm 1999 tổ chức OECD đưa ra Bộ nguyên tắc ĐHCT lần đầu tiên, trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn khá mới với Việt Nam và đến ngày 13/03/2007, trong quyết định 12/2007/QĐ-BTC Bộ Tài Chính ban hành nêu một số quy định về quy chế ĐHCT đối với các công ty niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
Do những mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông, những nguyên tắc ĐHCT đưa ra giúp các cổ đông có được các tiêu chuẩn để kiểm tra, giám sát việc sử dụng và phát triển đồng vốn của mình. Do những ích lợi của ĐHCT mà ngày càng có nhiều nước trên thế giới áp dụng vấn đề này để bảo vệ lợi ích không chỉ cho cổ đông mà cả các bên có liên quan khác, hơn nữa còn tạo cho nhà đầu tư sự tin tưởng vào thị trường, tạo thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Vậy ĐHCT là gì? Tại sao ĐHCT lại có nhiều ích lợi như vậy? Để hiểu được những vấn đề này, trước tiên cần hiểu được các nhân tố của ĐHCT, sau đó là những tác động của những nhân tố này đến các các quyết định tài chính của công ty. Trong cuộc nghiên cứu này, tôi muốn giới thiệu về một số nhân tố ĐHCT như: thành phần Ban quản lý, lương thưởng khuyến khích cho nhà quản lý, trình bày minh bạch thông tin ĐHCT và tác động của các nhân tố này đến tại các công ty niêm yết trên SGDCK TP.Hồ Chí Minh.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phƣơng Trúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bối cảnh Quốc tế: Vào những năm 1990, với cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, kinh tế các nước như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines chịu ảnh hưởng gay gắt bởi sự tồn tại của vốn nước ngoài sau khi thị trường bất động sản sụp đổ. Việc thiếu cơ chế ĐHCT trong những quốc gia này đánh dấu sự yếu kém của những cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, vào đầu những năm 2000, sự phá sản hàng loạt sau những vụ bê bối của các công ty lớn như Enron và Worldcom, cũng như sự thất bại của những công ty nhỏ hơn, như Adelphia Communications, AOL, Global Crossing, Tyco dẫn đến những yêu cầu về ĐHCT của cổ đông và chính phủ tăng lên.
Việt Nam: Quá trình cổ phần hóa và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua bộc lộ nhiều vấn đề liên quan đến ĐHCT. Báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank, 2006) về ĐHCT tại Việt Nam cho thấy chúng ta chưa tuân thủ các nguyên tắc ĐHCT của thế giới, còn nhiều lỗ hổng từ khuôn khổ pháp lý cho đến cách vận hành của doanh nghiệp. Báo cáo của Chương trình Phát Triển Mê Kông về tình hình ĐHCT tại các doanh nghiệp Việt Nam (MPDF, 2006) cho thấy có nhiều vấn đề nghiêm trọng trong ĐHCT tại Việt Nam. Hơn nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua thể hiện nhiều vấn đề tiêu cực như giao dịch nội gián, công ty niêm yết chưa hiểu rõ về công bố thông tin, phương án phát hành cổ phần của các công ty niêm yết, hạn chế tín dụng đầu tư chứng khoán v.
Những thông tin này khiến nhiều nhà đầu tư phân vân và mất niềm tin vào thị trường. Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phƣơng Trúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Qua bối cảnh quốc tế và Việt Nam như trên cho thấy ĐHCT là thực sự cần thiết để bảo vệ các cổ đông, các bên có liên quan bên ngoài cũng như tạo niềm tin cho họ vào các công ty ở Việt Nam, đẩy mạnh hiệu quả của thị trường, phát triển kinh tế đất nước. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy ĐHCT yếu kém là một trong những nguyên do của những câu chuyện kinh doanh bê bối ở Mỹ và khủng hoảng kinh tế ở Châu Á, đặc biệt là những trục trặc trong quá trình cổ phần hoá và phát triển kinh tế tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi.
Những vấn đề tiêu cực xảy ra trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua khiến cho nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường, làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam thêm điêu đứng. Như vậy, liệu có mối quan hệ nào giữa ĐHCT và các vấn đề này? Có nhiều nhân tố bị tác động bởi ĐHCT, chẳng hạn như giá trị công ty, lợi nhuận kinh doanh, tỷ suất sinh lợi trên vốn hoặc trên tài sản, chính sách tài chính, cấu trúc vốn, chi phí sử dụng vốn,…. Trong nghiên cứu này, tôi tập trung vào kiểm tra tác động của các nhân tố ĐHCT như thành phần Ban quản lý, quyền của cổ đông, lương thưởng khuyến khích cho nhà quản lý và trình bày minh bạch thông tin ĐHCT đến tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là các công ty niêm yết tại SGDCK TP.Hồ Chí Minh. Cuộc nghiên cứu này đóng góp thêm cho những lý luận khoa học liên quan đến ĐHCT qua nghiên cứu thực tiễn các công ty niêm yết tại.
Qua cuộc nghiên cứu này, các CTCP niêm yết tại Việt Nam có được những cơ sở đánh giá đúng tầm quan trọng của ĐHCT trong việc lựa chọn các quyết định tài chính và qua đó giảm được chi phí sử dụng vốn. Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phƣơng Trúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 4 CHƢƠNG 1: XEM XÉT CÁC NGHIÊN CỨU Chính sách tài chính của công ty quyết định cách công ty đầu tư, cấu trúc vốn và cuối cùng là chi phí sử dụng vốn. Vì vậy, một công ty nên lập chính sách tài chính nhằm tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn và tối đa hóa giá trị của công ty. Tuy nhiên, lý thuyết chi phí đại diện giả định rằng những người quản lý công ty mong muốn tối đa hóa lợi ích của họ, và vì vậy làm tăng chi phí của công ty, tăng phí tổn của cổ đông.
Các nhà quản lý chuyên nghiệp thay vì hành động theo những mong muốn của các cổ đông thì họ lại tìm kiếm những lợi ích cho riêng họ, mà những lợi ích này có thể gây tổn hại đến lợi ích của cổ đông. Chẳng hạn, các nhà quản lý có thể thực hiện các dự án đầu tư theo họ là có lợi, nhưng các dự án này có thể không làm tối đa hoá giá trị của công ty, làm ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông. Các nghiên cứu thực tế về các nhà quản lý cố giữ tỷ lệ vốn sở hữu của họ trong phạm vi an toàn, mối quan hệ giữa các nhà quản lý này và những quyết định cấu trúc vốn hỗ trợ cho quan điểm này. Các nhà quản lý thích phát hành vốn hơn là nợ để bảo vệ họ khỏi cơ chế ĐHCT bên ngoài, chẳng hạn: - Lundstrum, L.
(2009) trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà quản lý và sự thay đổi của đòn bẩy xung quanh việc phát hành chứng khoán sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ thấp hơn bằng việc phát hành nợ nhỏ hơn và phát hành vốn lớn hơn các nhà quản lý. Độ nghiêng của đòn bẩy trước khi phát hành đến sau khi phát hành có liên quan đến quyền sở hữu cổ phần của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường khi nhà quản lý có hữu cao. Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phƣơng Trúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 5 - DeJong và Veld, 2001 cho rằng vì các nhà quản lý của các công ty tại Hà Lan cố giữ tỷ lệ vốn của họ nên có mâu thuẫn giữa những quyết định quản lý và những phản ứng của cổ đông.
Các nhà quản lý tại các công ty ở Hà Lan đầu tư ồ ạt vào các dự án lớn nhưng kém hiệu quả, không tạo ra giá trị cao cho công ty (gọi là đầu tư thái quá). Vì vậy, họ thích phát hành vốn hơn để đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư thái quá này. Các công ty này phát hành vốn hướng đến tỷ lệ vốn mục tiêu, là bằng chứng chứng minh cho mô hình tín hiệu cấu trúc vốn của Ross (1977) và mô hình đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh. Đồng thời, nghiên cứu này không chứng minh cho mô hình lựa chọn nghịch của Myers và Majluf (1984).
Điều này có thể do sự phòng thủ của các nhà quản lý và sự phát hành rộng rãi các quyền mua cổ phiếu. Việc nghiên cứu những cho thấy nếu phát hành nợ sẽ dẫn đến lợi nhuận thấp, nhưng nếu phát hành vốn thì công ty phải chịu những khoản lỗ rất lớn. - Grossman và Hart, 2004 với nghiên cứu về cấu trúc tài chính của công ty và những chính sách đãi ngộ cho nhà quản lý. Cuộc nghiên cứu nói về những ảnh hưởng tiềm ẩn của mối đe dọa phá sản đến chất lượng quản lý tại các công ty đại chúng.
Theo thuyết đại diện, nhà quản lý (người đại diện cho ông chủ - các cổ đông) có những mục tiêu của riêng họ, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc tối đa hóa tư lợi của họ, và việc này có mâu thuẫn với những mục tiêu của cổ đông, giả định là có liên quan đến lợi nhuận của công ty hoặc việc tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Có một số cách để khắc phục vấn đề này. Đầu tiên, những nhà quản lý có thể được nhận những đãi ngộ về thu nhập (ví dụ: họ được chia lợi nhuận hoặc có được những đặc quyền mua cổ phần) để họ thực hiện hướng đến lợi ích của cổ đông. Thứ hai, các cổ đông có thể ghi trên điều lệ công ty cho phép có chừng mực một số hoạt động chào mua công khai.
Kết quả của việc cho phép chào mua công khai là nếu công ty hoạt động tồi tệ, công ty có thể bị thôn tính bởi một công ty khác. Mối đe dọa của một sự mua Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phƣơng Trúc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 6 bán thôn tính buộc các nhà quản lý phải đạt được lợi nhuận cao hơn nếu họ không muốn mất đi lợi ích từ công ty.