Chương I: Téng quan tài liệu * Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam * Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu Chương II: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu. * Thời gian nghiên cứu * Địa điểm nghiên cứu * Phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận * Thành phần loài cá sông Đầm, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam * Dac điểm phân bó thành phần loài cá sông Dam * Tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở sông Đầm * Một số giải pháp đề phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở sông Đầm Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 'Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với điều kiện khí hậu.
nóng, âm, mưa nhiều, cùng với sự phân hóa phức tạp về địa hình da tao cho nước ta sự đa dạng về các loại hình thủy vực với hệ thống sông ngòi dày đặc. Toàn quốc có khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ, 231 hồ tự nhiên với 34.470 hồ chứa với 1. Dọc bờ khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 112 cửa sông ra biển. Vì vậy, nước ta có một nguồn lợi cá nước ngọt vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo.
~ Thời kỳ trước năm 1945 nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta được tỉ (cuối thế kỷ XIX). Tuy vậy, trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến XX (1945) những nghiên cứu về cá nước ta chủ yếu do các chuyên gia nước ngoài thực hiện. Theo Bộ Thủy sản (1996), nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta là của H.Vaillant thu thập và mô tả 6 loài, trong đó vào năm 1891 ông mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, vào năm 1907 ông công bố thêm 5 loài ở sông Kỳ Cùng trong đó có 1 loài mới và đến năm 1934 ông tiếp tục công bố 33 loài mới [64]. Có thể nói công trình nghiên cứu được coi là lớn nhất và có giá trị nhất, khá tông hợp về cá nước ngọt trong thời kỳ này là của P.
Lemasson (1937) với “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam”. Một công trình nghiên cứu tổng hợp khác về cá nước ngọt miền Bắc đã giới thiệu ở miền Bắc Việt Nam sản Đình Bảng, khoa Sinh trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Thuỷ sản [19], [20]. Các công trình nghiên cứu được tiến hành điều tra 6 ha iết các vùng sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng,. Miền Nam cũng có những công trình nghiên cứu của Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanoir (1965), M.
Kuronuma (1961) đã tổng hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài : Nguyễn Vị Truong va Tran Thi Tay Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt đồng. bằng sông Cửu Long gồm 93 loài [19]. Nhìn chung các công trình nghiên cứu thời gian này vẫn mang tính chất riêng rẽ cho từng khu vực. ~ Giai đoạn từ 1975 đến nay Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến năm 1995, kế thừa những thành quả của giai đoạn trước, ở giai đoạn này, công tác nghiên cứu cá được tiền hành trong phạm vi cả nước, nhiều công trình nghiên cứu về các hệ sinh thái cửa sông, vùng đầm ao nước ngọt được tập trung nghiên cứu nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo của thủy vực.
Các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu và toàn diện cả về đa dạng sinh học, đặc điểm sinh thái, giá trị của nguồn lợi, phát triển bền vững nguồn lợi, .mở rộng phạm vi nghiên cứu trên hầu hết các khu vực ở những thủy vực khác nhau. Nhờ đó, những dẫn liệu về thành phần loài, đặc tính sinh học, sinh thái và phân bố cũng như sự tác động của môi trường sống đến các quản thể cá không ngừng tăng lên và ngày càng hoàn thiện [13]. Trong luận văn này, chang tôi chỉ quan tâm chủ yếu các kết quả nghiên cứu về khu hệ, đặc trưng phân bố các loài cá nước ngọt Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu trong giai đoạn đầu sau năm 1975 có thể kể đến đó là hai công trình mang tính tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các thời kỳ trước được công bồ là, "Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh Bắc Việt Nam" của Mai Đình Yên (1978) đã thống kê danh mục, mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở Miền Bắc nước ta [62] và "Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ" do Mai ình Yên chủ biên với các cộng sự (1992) mô tả, lập khóa định loại 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [64].
Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương đã công bố “Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 137 loài, 99 giống, 39 họ và 13 bộ [26]. Đây là những công trình đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nước ta trong thời kì này. Khu vực Miền Trung - Tây Nguyên trước đây ít được quan tâm, trong giai đoạn này đã có những công trình nghiên cứu được công bố như “Thành phần loài cá sông Hương” của Nguyễn Hữu Dực (1982), đã thống kê được 58 loài [19]; khu hệ cá sông Lam của Nguyễn Thái Tự (1983), đã thông kê được 157 loài [S8]; Năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực, thành phần loài cá sông Thu Bồn, gồm 58 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài [13]; Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực (1994) đã công bố 82 loài cá ở các sông, suối Tây Nguyên; Nguyễn Hữu Dực (1995) đã công bố 134 loài ở khu vực Nam Trung Bộ; Võ Văn Phú (1995), “Thành phần loài cá đầm phá Thừa Thiên Huế” với 163 loài [34]; Nguyễn Văn Hảo (1996), “Kết quả điều tra khu hệ cá và đặc điểm sinh học một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm Châu Trúc (Bình Định)” với 50 loài [19]; Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thị Thu Hè (1997), “Dẫn liệu bước đầu vẻ thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắc Lắc) [53]; Nguyễn Văn Hảo, Võ Văn Bình (1999), “Thanh phan các loài cá ở đầm Trà Ô và sự biến đổi của nó liên quan diễn thế của đầm” với 67 loài [20]; Nguyễn Thị Thu Hè (1999), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở các sông suối Tây Nguyên” với 160 loài [21]; Nguyễn Thái Tự (1999), “Khu hệ cá vườn quốc gia Bến Én” với 68 loài [19]; Võ Van Pha, Trần Hồng Dinh (2000), “Đặc điểm cấu trúc khu hệ cá đầm Lăng Cô” với 151 loài [19]; Nguyễn Trường Khoa, Võ Văn Phú (2000), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” với 83 loài thuộc 56 giống, 36 họ và 12 bộ [27]; Nguyễn Xuân Huấn (2001), “Đa dạng sinh học loài cá ở bảo Khu tồn thiên nhiên Vân Long, huyện Gia Vĩnh, tỉnh Ninh Bình” [20]. Khu hệ cá cửa sông ven biển của Vũ Trung Tạng (1994) đã công bố thành phần loài “Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” với 580 loài, trong đó có 186 loài cá biển xâm nhập vào hệ thống sông và các thủy vực nước ngọt khác gồm 110 họ thuộc 25 bộ.
Đồng thời, ông chia cá cửa sông làm 4 nhóm sinh thái có nguồn gốc khác nhau: cá biển, cá cửa sông, cá nước ngọt và cá di cư [52]. Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt Nam có nghiên cứu của các tác giả Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993, 1998) và Nguyễn Hữu Dực (1995). Các tác giả cho rằng khu hệ cá nước ngọt 'Việt Nam có thể xếp vào vùng Đông Phương với hai vùng phụ cận và 11 khu địa lí như sau [19]. ~ Vùng phụ Nam Trung Hoa có 5 khu thuộc Việt Nam là Cao Lạng, Việt Bắc, Tây Bắc, miền núi Bắc Trung bộ, đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ ~ Vùng phụ Đông Dương có 4 khu thuộc Việt Nam là Tây Nguyên, hạ lưu sông Mêkông, đồng bằng Nam Bộ và đảo Phú Quốc.
~ Ngoài ra còn hai khu mang tính chất chuyển tiếp giữa 2 vùng phụ cận trên là khu thứ 10: Trung và Nam Trung bộ mang tính chất chuyên tiếp theo hướng. Bắc Nam và khu thứ 11: Điện Biên Phủ mang tính chất chuyển tiếp theo hướng Tây Bắc. Nhìn chung, những nghiên cứu toàn diện về cá trong giai đoạn này được đây mạnh và có những bước tiến vững chắc. Tuy nhiên, phần lớn các công trình 10 nghiên cứu về cá chỉ tập trung ở hệ sinh thái của các thủy vực nội địa phía Bắc và phía Nam, nơi gần những trung tâm nghiên cứu quốc gia về thủy sản.
Các vùng biển và các thủy vực nội địa ở miền Trung vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu. Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2001) đã xuất bản Tập I, Nguyễn Văn Hảo (2005) Tập II và III về “Cá nước ngọt Việt Nam” mô tả các loài nước ngọt điển hình và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng cửa sông, đầm phá ven biển. Tác giả đã thống kê và công bố được.027 loài và phân loại cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22 bộ [19], [20]. Đây là bộ sách được xem là đầy đủ và chỉ tiết nhất về phân loại cá nước ngọt Việt Nam hiện nay.