Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.
TONG QUAN VE LOAI CHIM TRI DO KHOANG CO (Phasianus colchicus) Tri do khoang 6 - Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 1a loai chim trong ho Tri (Phasianidea). Cho đến nay, loài này trở nên khá phổ biến bởi được coi là một trong những loài chim phục vụ cho thể thao săn bắn (game bird). Ở những nơi loài này du nhập tới, như châu Âu nó được gọi là “ Ga lôi , ở Bắc Mĩ nó được gọi là “ Trĩ lỏ khoang cổ”. Phasianus colchicus phân bỗ ở châu Á, châu Phi.
Loài này lần đầu tiên được mô tả cho khoa học bởi C. Linné trong cuốn “ Hệ thống tự nhiên” vào năm 1758 dưới tên khoa học của nó. Trước khi C. Linné thiết lập danh pháp phân loại thì loài này được tranh cãi khá nhiều.
P#asiamws colehieus đôi khi được xem là cùng loài với Phasianus versicolor.Tuy nhiên, hiện nay khoa học đã chứng minh chúng không cùng loài với nhau. Ở loài Phasianus versicolor: con đực có đuôi ngắn hơn so với Piasiaus colchieus và có bộ lông sẵm màu hơn, thiếu vòng cổ; con cai sim màu hơn với những chấm đen trên ngực và bụng [46] Cho đến nay đã xác định trên thể giới loài Trĩ đỏ khoang cỗ - Phasiamus colehicus có tới 32 phân loài [46], bao gồm: P.c, sohokhotensis, Sự phân bồ của các phân loài của loài Trĩ ĐKC đã xác định ở at Nam có 2 phân loài phân bố bao gém: P. Ngoài tự nhiên, loài Trĩ ĐKC thường sống ở vùng núi thấp, có độ cao. lên tới 800m so với mực nước biển, nơi có nhiều cây cỏ, bụi rậm và rừng, thông, không sống trong rừng rậm [46] Tại Việt Nam, quan thể chim Trĩ ĐKC còn rất ít trong tự nhiên.
Với nhiều nguyên nhân tác động như săn bắt bừa bãi, tàn phá rừng, mắt sinh cảnh sống. đã đầy loài chim này đứng trước nguy cơ đe dọa bị biến mat ngoài tự nhiên. Vì vậy, chúng được liệt vào danh sách các loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ. Những nghiên cứu trước đây cho thấy loài này được phát hiện phân bố ở các tỉnh phía Bắc nước ta như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào.
Cai, Quảng Ninh, Yên Bái. Một số tài liệu cũng cho thấy có một quần thẻ phân bố ở các phía Nam bao gồm ở VQG Cát Tiên ở huyện Đức Trọng và KBTTN BiDoup — Nui Ba, tỉnh Lâm Đồng [21]. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU VẺ LOÀI CHIM TRI DO KHOANG CO (Phasianus colchicus) 1. Trên thế giới Các nghiên cứu về chim Trĩ ĐKC được sắp xếp theo các lĩnh vực sau: a.
Nghiên cứu về các nội dung sinh học vé chim Tri BKC * Nghiên cứu về bệnh: _Ormsbee (1939) đã nghiên cứu bệnh cầu trùng ở chim Trĩ ĐKC tại Đông Washington [35]. Scott và CS (1954) đã nghiên cứu ảnh hưởng của kháng sinh, arsen và các hợp chất kích thích tuyến giáp (thyroaetive) đến sinh trưởngvà mọc lông của Trĩ non [38]. Yao - Ching Hsieh và CS (2009) đã chân đoán bệnh lao chim ở Trĩ Swinhoe bằng phương pháp thông thường và phân tử [44] * Nghiên cứu lĩnh vực sinh lý, sinh hóa: Sarvella và CS (1977) so sánh miễn dịch của serum ở gà, gà tay, chim Tri, chim cút và các con lai của chúng [37]. Purohit và Bassrus (1979) nghiên cứu phản ứng của tỉnh hoan chim Tri đỏ không giao phối ¡ với HCG, chiết xuất tuyến yên của gà và thời gian chiếu sáng [36].
Breitenbach và CS (1959), đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc ấp và úm đến mỡ, khối lượng nội tạng và khối lượng, cơ thể ở chim Trĩ đỏ mái [26]. * Nghiên cứu về các con lai giữa loài Trĩ và các loài chim và gà khác như: Asmundson và Lorenz (1957) đã nghiên cứu con lai của Trĩ đỏ với gà tây và gà nhà [24] b, Nghiên cứu về đặc điểm dình dưỡng, sinh trưởng của chim Trĩ BKC Nghiên cứu về dinh dưỡng Trĩ non, nhu cầu vitamin K của chim cút và Tri non (Scott va CS, 1954) [38]. Adams và CS (1968) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc nuôi nhốt và thời gian chiếu sang đến khả năng sản xuất của chim Tri DKC [22]. Thomas va Bailey (1973) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đẻ trứng và chế độ cho ăn đến phát triển của Trĩ con [40].
Warner va CS (1980) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức protein và hiện tượng sốc do nhiệt độ môi trường đến sinh trưởng của chim Trĩ ĐKC [41]. Nghién cttu vé dae diém sinh san ciia chim Tri BKC Hiller va CS (1932) đã nghiên cứu về “Ảnh hưởng của màu sắc và độ dày vỏ trứng đến khả năng ấp nở của chim Trï ĐKC Trung Quốc”. Woodard va CS (1983) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc đảo trứng và thời gian bảo quản đến tỷ lệ nở của Trĩ [43]. Bates và Hanson (1987) đã nghiên cứu chế độ chiếu sáng và tỷ lệ giới tính phù hợp cho việc nhân giống chim Trĩ đỏ nuôi nhốt [25].
Deeming và Wadlandi (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ trống/mái ở những đàn Trĩ thương phẩm đến sức khỏe, sức sản xuất, tỷ lệ phôi và nở của trứng [27], di. Nghiên cứu về bao ton chim Tri BKC Chim Trĩ ĐKC được xem là động vật thuần hóa và đã được chăn nuôi, nhân giống để phục vụ săn bắn và lấy thịt. Song song với công việc đó công, tác bảo tồn loài này trong thiên nhiên vẫn được tiến hành. Một trong những nước khá thành công trong công việc này đó là Vương quốc Anh.
Theo báo cáo của Game & Wildlife Conservation Trust (2012), thì năm 1900 chỉ có 25 con Trĩ trên 100 ha, nhưng con số này đã tăng lên 150% vào năm 1980. Các công trình nghiên cứu bảo tồn như: “Các loài động vật đang ở trạng thái nguy hiểm và môi trường sống tại Việt Nam” (Westing, 1981) [42]; “Các vùng bảo vệ và bảo tồn các loài Trĩ tại đông Á” (Me Gowan và CS, 1998) [33] e. Nghiên cứu về nuôi thích nghỉ, giống và nhân giống Hiller và CS (1932) đã nghiên cứu nhân giống chim Trĩ ĐKC tại Mỹ [30]. Woodard và CS (1983) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cận huyết đến các tính trang sinh sin 6 chim Tri DKC duge nudi tai các trang trại ở Mỹ [41].
Asmundson và CS (1957) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc nuôi nhốt trong lồng và chế độ chiếu sáng đến năng suất của chim Trĩ giống, thí nghiệm được tiến hành tại Mỹ [25]. Cain và CS (1984) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ăn giai đoạn hậu bị và mật độ nuôi ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiện tượng mồ cắn nhau (Cannibalism) ở chim Trĩ ĐKC [27]. Ở Việt Nam Nghiên cứu riêng về loài Trĩ ĐKC ở Việt Nam phải kế đến hai công trình trong thời gian gần đây. Một là công trình của Hà Thị Tường Vân (2003) với đề tài “Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của chim Trĩ đỏ khoang cé trong kiện nuôi nhốt tại vườn thú Hà Nội”.
Đối tượng nghiên cứu là 1 đôi chim Trĩ ĐKC trưởng thành và 10 Tri con được sinh ra từ cặp này. Trĩ được nuôi trong ô nhỏ như ở Vườn thú Hà Nội. Các loại thức ăn gồm thóc, ngô, lạc, thịt, cám, nho, chuối, dưa, rau giá, giun. Kết quả là 3 năm 3 mái đẻ được 75 quả, trung bình 10,7qua; cao nhất là 14 quả và thấp nhất là 7 quả [20].
Hai là vào năm 2012, Hoàng Thanh Hải đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ của mình với lài “Một số đặc đi sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ đỏ khoang cỗ (Phasianus colchieus) trong điều kiện nuôi nhốt”. Đề t là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm sinh học (ngoại hình, sinh lý, sinh hoá máu), khả năng sinh sản, sinh trưởng, khả năng cho thịt và phẩm chất thịt của chim Tri DKC muôi nhốt ở Việt Nam [4]. Nhìn chung, các nghiên cứu của nước ngoài về chăn nuôi chim Trĩ DKC khá đa dạng và chuyên sâu. Nghề chăn nuôi chim Tri DKC tại Việt Nam mới được hình thành, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, mang tính tự phát, việc tìm hiểu chuyên sâu về tập tính sinh thái của chim Trĩ ĐKC còn rất hạn chế Đặc biệt là việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển nhằm khai thác các giá trị kinh tế về chim Tri ĐKC vẫn chưa được chú trọng.
MOT SO DAC DIEM SINH HQC CUA CHIM TRI DO KHOANG CO (Phasianus colchicus) 1. Đặc điểm hình thái chim Tri dé khoang c6(Phasianus colchicus) Đặc điểm hình thái của chim Trĩ đỏ theo các nhóm tuổi và giới tính được mô tả như sau: * Nhóm tuỗi trưởng thành - Hình thái chìm trồng trưởng thành Về màu sắc: Chim trống trưởng thành có bộ lông óng mượt với nhiều màu sắc. Đầu và cỗ có màu xanh đen với 1 khoang trắng rõ rệt xung quanh vùng cổ, giữa ngực là 1 màu đỏ tía đậm, các vùng bên cạnh có màu sáng hơn, hai bên sườn có màu vàng nhạt với các vết đen trên diện rộng [4]. Về hình dạng: Đầu hơi to, cổ thon, ngắn, trên đỉnh đầu có mũ sừng bằng lông vũ màu xanh đen, cao 150 - 200(mm).
Mắt màu nâu đỏ. Mỏ và chân màu ngà, mỏ ngắn, nhọn và khỏe, chân có cựa [26]. Về kích thước, trọng lượng: Chiều dài thân từ 450 - 600(mm), trọng. lượng trung bình 1400(g).
Chim Trĩ đỏ trồng trướng thành " ~ Hình thái chìm mái trưởng thành 'Về màu sắc: Chim mái trưởng thành có bộ lông màu vằn nâu, điểm các chấm đen hay màu xám mốc. Lông cổ màu nâu và đen kẻ sọc quanh chỏm đầu, với các đường viền có màu hạt đẻ [26]. Các lông phía sau lưng và ngực. có màu nâu đen.
Phần bụng có màu nâu nhạt. Lông đuôi ngắn, dày khít có mau vang sim va den. Về hình dạng: đầu nhỏ, cỗ thon nhỏ, ngắn giống cổ gà [4]. Mắt màu nâu đỏ.
Mỏ ngắn, nhọn và khỏe, chân cao, chân có cựa ngắn nhưng biểu hiện không rõ, màu ngà. VỀ kích thước, trọng lượng: Chim mái có kích thước và trọng lượng nhỏ hơn chim trống. Chiều dài thân từ 400 - 500(mm), trọng lượng trung bình 1100(g). Chim Trĩ đó mái trưởng thành 12 * Nhóm tuỗi bán trưởng thành: Chim Trĩ đỏ non mới nở có bộ lông màu cánh sẻ, có ba đường kẻ sọc chạy dài từ đầu đến cuối thân, lông ở bụng màu vàng nhạt [4].
Đầu nhỏ, cỗ ngắn, mắt màu nâu đỏ. Mỏ và chân màu hồng. Mỏ ngắn, chân cao, bàn chân có 4 ngón. Chim Trĩ đỏ non 2 tuần tuổi ắt đầu mọc lông cánh.