Chương I: Tổng quan tài liệu: 26 trang; - Chương 2: Đối tương, phạm vi và phương pháp nghiên cứu: 9 trang; - Chương 3: Kết quả và thảo luận: 37 trang; - Kết luận và đề nghị: 2 trang. ~ Tài liệu tham khảo: Š trang. Đề tài đã tham khảo 35 tài liệu, trong đó có: 29 tài liệu tiếng Việt va 6 tài liệu tiếng Anh. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.
SO LUQC VE DIEU KIEN TY NHIEN, KINH TE, XA HOI CUA THANH PHO DA NANG 1. Điều kiện tự nhiên [35] Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của cả nước, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 ~ 9, mùa mưa từ tháng 10- 12. Đà Nẵng có nền nhiệt độ cao và ít biến động.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25°C, cao nhất vào tháng 6, 7, 8 trung bình từ 2§°C - 30°C, thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 trung bình từ 18 - 23C, thỉnh thoảng có những đợt nắng nóng hoặc rét đậm nhưng không kéo dài b. Độ Âm Độ ẩm không khí trung bình §3,4%, cao nhất là tháng 10, 11 trung bình từ 85,67% - 87,67%, thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình từ 76,61% - 71,33%. Địa hình Địa hình thành phố Đà Nẵng khá đa dạng, vừa có đồng bằng vừa có núi, một bên là đèo Hải Vân với những dãy núi cao, một bên là bán đảo Sơn Trà hoang sơ. Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hep.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (> 40%), là nơi tập trung nhiều rừng. đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phó. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Tài nguyên thiên nhiên - Tai nguyên đất Thành phó Đà Nẵng có các loại đất khác nhau: cồn cát và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng.
Trong đó, quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với các loại cây công. nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và có kết cấu vững chắc thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở công trình hạ tầng kỹ thuật.255,53 km diện tích, chia theo loại đất có: + Đất lâm nghiệp: 514,21 ki + Đất nông nghiệp: 117,22 kmẺ; + Đất chuyên dùng (sử dụng cho mục đích công nghiệp, xây dựng, thủy lợi, kho bãi, quân sự.): 385,69 kmÊ; + Dat 6: 30,79 km’; + Dat chưa sử dụng, sông, núi: 207,62 km”. ~ Tài nguyên rừng Diện tích dat lâm nghiệp trên địa ban thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phó, phân theo chức năng bao gồm 3 loại rừng: + Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha; + Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha; + Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18. Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiều, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn.
Tỷ lệ che phủ là 49,6%. Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân. + Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà Tổng diện tích tự nhiên là §.83§ ha, trong đó diện tích rừng và dat lâm nghiệp là §.800 ha bao gồm đất có rừng: 6.942 ha (rừng tự nhiên 5.976 ha, rừng trồng 966 ha), đất chưa có rừng 1.
Đây là khu rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, nối liền với vườn quốc gia Bạch Mã, rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía bắc và tây bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam liên tục trải đài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào. Rừng tự nhiên Bà Nà - Núi Chúa có kết cấu thành loài đặc trưng cho sự giao lưu giữa hai luồng thực vật phía bắc và phía nam, đồng thời cũng đặc trưng cho khu đệm giao lưu giữa hai hệ động vật Bắc Trường Sơn và Nam Trường Sơn. Ngoài ra, đây còn là vùng khí hậu mát mẻ, trong lành, đầu 10 nguồn các dòng sông, đóng vai trò đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái của thành phố Đà Nẵng. + Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hai Van Tổng diện tích tự nhiên là 10.850 ha, trong đó diện tích rừng và đắt lâm nghiệp 9.764 ha (rừng tự nhiên 2.993,4 ha, rừng trồng 2.565,4 ha), đất chưa có rừng là 4.
Rừng đặc dụng Nam Hải Vân tiếp giáp với vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) và Bà Nà - Núi Chúa, cùng tạo ra một hành lang đủ lớn để bảo tồn và phát triển các loài động vật rừng có nguy cơ tuyệt chủng. Về mặt môi trường, Hải Vân tạo ra sự khác biệt rõ rệt về khí hậu, thời tiết giữa hai sườn phía Nam (Đà Nẵng) và phía Bắc (Thừa Thiên - Huế), che chắn thành phố Đà Nẵng giảm bớt sự tác động trực tiếp của gió bão hàng năm, đồng thời điều tiết mức độ nhiễm mặn của sông Cu Đê. Hải Vân còn có giá trị lớn về mặt văn hóa, lịch sử: đây là nơi ghi dấu ấn lịch sử Nam tiến mở rộng bờ cõi của dân tộc Việt và có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. * Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà Tổng diện tích tự nhiên là 4.439 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4.180 ha, trong đó đất có rừng là 3.431 ha (rừng tự nhiên 2.806 ha, rừng trồng 625 ha), đất chưa có rừng 748 ha.
Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh. Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng. Điều đặc biệt là Sơn Trà còn có những loài động ll vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc vá có thể được xem là loài thú sinh trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ. Mặt khác, Sơn Trà còn là nguồn cung cấp nước ngọt cho thành phố và là nơi u cảnh đẹp và di tích lịch sử nên rất có giá trị về du lịch.
Ngoài ra, Son Trà còn là bức bình phong che chắn gió bão cho thành phó. Điều kiện kinh tế - xã hội [35] Thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Nằm ở vị trí trung độ của đát nước, trên trục giao thông Bắc - Nam của quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không; cách thành phố Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam. Đà Nẵng có vị trí thuận lợi về các tuyến đường biển, đường hàng không quốc tế Đà Nẵng là thành phố động lực của Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung gồm năm tỉnh và thành phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của Vùng, từng bước phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm miễn Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước.
Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đây phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đà Nẵng còn là cửa ngõ phía Đông của Hành lang Kinh tế Đông — Tay (EWEC). Hanh lang Kinh tế Đông - Tây là một trong năm hành lang. kinh tế được phát triển theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển Châu Á ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông.
Đây là tuyến đường bộ dài 1.481 km nối hai bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đi qua 13 tỉnh/thành phố của 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine đến cửa khẩu 12 Myawaddy (Myanma), di qua Thái Lan, Lào và điểm đến cuối cùng là cảng Tiên Sa - Đà Nẵng của Việt Nam. Hành lang Kinh tế Đông - Tây không chỉ đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đây mạnh hợp tác phát triên kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao mức sống cho nhân dân, mà còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp của các nước tiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động. tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và xuất khẩu, thúc đầy phát triển du lịch. Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Đà Nẵng có ngành kinh tế khá đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp cho tới dịch vụ, du lịch, thương mại.
Cơ sở hạ tầng phát triển gồm nhiều cầu, cảng, sân bay, hệ thống giao thông và các dịch vụ công cộng khác. Cơ cấu kinh tế (2011): Dịch vụ 52,98% - Công nghiệp và Xây dựng 43,84% - Nông nghiệp 3,18%, mục tiêu đến năm 2020 là: Dịch vụ 55,6% - Công nghiệp và Xây dựng 42,8% - Nông nghiệp 1,6%. Lực lượng lao động toàn thành phó là 453.400 người, chiếm 48% tổng dân số của thành phó, tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%. Đà Nẵng có 06 quận và 02 huyện.
Huyện Hòa Vang có diện tích lớn nhất, nằm ở phía Tây TP, tập trung hầu hết đồi núi và là nơi bắt nguồn các sông của Đà Nẵng. Tại đây phần lớn người dân sinh sống bằng nghề nông, chăn nuôi gia súc, gia cằm, dệt lụa, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, một bộ phận nhỏ tham gia sản xuắt tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ phục vụ du lịch.