MỞ ĐẦU Vật liệu titan đioxit (TiO2) được sản xuất thương mại vào đầu thế kỷ 20 và nó được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: làm chất màu cho sơn, chất độn trong cao su, kem chống nắng, kem đánh răng, ứng dụng trong nhựa, giấy, vải sợi, …. Đến năm 1972, nhóm nghiên cứu gồm Fujishima và Honda khám phá ra hiện tượng quang phân giải nước trên bề mặt điện cực TiO2 dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại [21]. Kể từ thời điểm này, vật liệu TiO2 kích thước nano mét ở các dạng thù hình rutin, anata và brukit được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm bởi những ứng dụng tuyệt vời của chúng như: làm chất xúc tác trong tổng hợp nhiều chất hữu cơ, chất xúc tác quang hoá trong xử lí môi trường, chế sơn tự làm sạch, vật liệu chuyển hoá năng lượng trong pin mặt trời, ứng dụng trong y học,. Quá trình quang xúc tác bán dẫn là một trong những quá trình oxi hóa nâng cao nhờ ánh sáng và trong khoảng hơn mười năm trở lại đây được xem là quá trình có tầm quan trọng trong lĩnh vực xử lí nước và nước thải.
Quá trình này có nhiều ưu việt như: sự phân hủy các chất hữu cơ có thể đạt đến mức vô cơ hóa hoàn toàn, không sinh ra bùn hoặc bã thải, chi phí thấp, có thể thực hiện trong điều kiện áp suất bình thường và có thể sử dụng chất xúc tác không độc và rẻ tiền [20, 27, 29]. Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản về các phản ứng quang xúc tác với sự có mặt những chất quang xúc tác bán dẫn khác nhau. Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng quy mô phòng thí nghiệm cũng như ứng dụng quy mô thử nghiệm trong phạm vi chương trình nghiên cứu quốc gia và quốc tế đã cho thấy những triển vọng to lớn của quá trình phân hủy quang xúc tác trong xử lí nước và nước thải công nghiệp. Trong nhiều chất bán dẫn có khả năng quang xúc tác như: TiO 2, WO3, SrTiO3, Fe2O3, ZnO, ZnS, CdS,.
TiO2 được chứng minh là phù hợp nhất cho các ứng dụng rộng rãi trong xử lí môi trường do TiO2 có hoạt tính quang xúc tác cao nhất, trơ về hóa học và sinh học, bền vững, không bị ăn mòn dưới tác dụng của ánh sáng và hóa học, giá thành thấp. Tuy nhiên, do năng lượng vùng cấm của TiO2 tinh khiết khá lớn (3,25 eV đối với pha anata và 3,05 eV đối với pha rutin) nên chỉ hoạt động quang xúc tác trong vùng tử ngoại gần và do đó 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ có thể tận dụng được một phần nhỏ (< 4%) nguồn năng lượng mặt trời, làm giới hạn ứng dụng thực tiễn của nó. Một xu hướng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm là tìm cách thu hẹp vùng cấm của TiO2, sao cho có thể tận dụng được tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời cho các mục đích quang xúc tác của chúng. Để đạt mục đích đó, nhiều ion kim loại và không kim loại đã được sử dụng để pha tạp các dạng thù hình của TiO2 bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Kết quả bước đầu cho thấy, việc pha tạp TiO2 bằng các ion kim loại, đặc biệt là các ion kim loại chuyển tiếp đã cải thiện đáng kể hoạt tính quang xúc tác của TiO2 trong vùng ánh sáng nhìn thấy [22, 23, 30]. Trong các kim loại chuyển tiếp được sử dụng, vonfram đã được chứng tỏ là làm thay đổi cấu trúc và mang lại hiệu quả cao trong việc cải thiện hoạt tính quang xúc tác của TiO2. Trên thế giới, số lượng công trình công bố về lĩnh vực điều chế vật liệu TiO2 được pha tạp đang ngày càng tăng, chứng tỏ sự quan tâm ngày càng nhiều của các nhà khoa học [13-17]. Ở Việt Nam, việc điều chế vật liệu TiO2 được pha tạp bằng vonfram và ứng dụng loại vật liệu này cũng đã được tiến hành ở một số cơ sở nghiên cứu [3, 4].
Tuy nhiên, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn mới chỉ là bước đầu. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là: “Nghiên cứu điều chế, khảo sát hoạt tính quang xúc tác của bột titan đioxit kích thƣớc nano đƣợc biến tính vonfram”. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. GIỚI THIỆU VỀ TiO2 KÍCH THƢỚC NANO MÉT 1.
Cấu trúc và tính chất vật lý của titan đioxit TiO2 là chất rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng, khi làm lạnh thì trở lại màu trắng. Tinh thể TiO2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (Tnc0 = 18700C) [2]. TiO2 có ba dạng thù hình tinh thể là anata (tetragonal), rutin (tetragonal) và brukit (orthorhombic) [19] (Hình 1. Cấu trúc tinh thể anata Cấu trúc tinh thể rutin Cấu trúc tinh thể brukit Hình 1.
Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO2 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rutin là dạng bền phổ biến nhất của TiO2, có mạng lưới tứ phương trong đó mỗi ion Ti4+ được ion O2- bao quanh kiểu bát diện, đây là kiến trúc điển hình của hợp chất có công thức MX2, anata và brukit là các dạng giả bền và chuyển thành rutin khi nung nóng. Trong các dạng thù hình của TiO2 thì dạng anata thể hiện hoạt tính quang xúc tác cao hơn các dạng còn lại. Những sự khác nhau trong cấu trúc mạng lưới dẫn đến sự khác nhau về mật độ điện tử giữa hai dạng thù hình rutin và anata của TiO2 và đây là nguyên nhân của một số sự khác biệt về tính chất giữa chúng. Chính vì vậy khi điều chế TiO2 cho mục đích ứng dụng thực tế cụ thể người ta thường quan tâm đến kích thước, diện tích bề mặt và cấu trúc tinh thể của sản phẩm.
Một số tính chất vật lý của TiO2 ở dạng anata và rutin STT Tính chất vật lý Anata Rutin 1 Cấu trúc tinh thể Tứ phương Tứ phương 2 Nhiệt độ nóng chảy (oC) 1.850 3 Khối lượng riêng (g/cm3) 3,84 4,20 4 Độ cứng Mohs 5,5 – 6,0 6,0 – 7,0 5 Chỉ số khúc xạ 2,54 2,75 6 Hắng số điện môi 31 114 7 Nhiệt dung riêng (cal/mol.oC) 12,96 13,2 8 Năng lượng vùng cấm (eV) 3,25 3,05 Quá trình chuyển dạng thù hình của TiO2 vô định hình - anata - rutin bị ảnh hưởng rõ rệt bởi các điều kiện tổng hợp và các tạp chất, quá trình chuyển pha từ dạng vô định hình hoặc cấu trúc anata sang cấu trúc rutin bắt đầu xảy ra ở nhiệt độ 500oC [37]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả công trình [1] thì năng lượng hoạt hoá của quá trình chuyển anata thành rutin phụ thuộc vào kích thước hạt của anata, nếu kích thước hạt càng bé thì năng lượng hoạt hoá cần thiết để chuyển anata thành rutin càng nhỏ. Ngoài ra, sự có mặt của các tạp chất cũng ảnh hưởng đến nhiệt độ và tốc độ chuyển pha anata thành rutin [37]. Tính chất hóa học của titan đioxit TiO2 bền về mặt hoá học (nhất là dạng đã nung), không phản ứng với nước, dung dịch axit vô cơ loãng, kiềm, amoniac, các axit hữu cơ [9].
TiO2 tan không đáng kể trong các dung dịch kiềm tạo ra các muối titanat. TiO2 tan rõ rệt trong borac và trong photphat nóng chảy. Khi đun nóng lâu với axit H2SO4 đặc thì nó chuyển vào trạng thái hoà tan (khi tăng nhiệt độ nung của TiO2 thì độ tan giảm). TiO2 tác dụng được với axit HF hoặc với kali bisunfat nóng chảy.
Ở nhiệt độ cao TiO2 có thể phản ứng với cacbonat và oxit kim loại để tạo thành các muối titanat. TiO2 dễ bị hidro, cacbon monooxit và titan kim loại khử về các oxit thấp hơn. Tính chất điện tử Các trạng thái điện tử của TiO2 có thể phân chia thành ba loại: liên kết của các trạng thái O p và Ti eg trong vùng năng lượng thấp hơn; liên kết của các trạng thái O p và Ti eg trong vùng năng lượng trung bình; và các trạng thái O p trong vùng năng lượng cao hơn. Phần dưới cùng của vùng dẫn thấp hơn (CB) gồm có các obitan Ti dxy đóng góp vào các tương tác kim loại - kim loại dẫn đến liên kết của các trạng thái Ti t2g - Ti t2g.
Giản đồ sự phân bố các mức năng lượng của các obitan phân tử đối với anata được đưa ra như hình 1.2 dưới đây: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giản đồ MO của anata (a)-Các mức AO của Ti và O; (b)-Các mức tách trong trường tinh thể; (c)- Trạng thái tương tác cuối cùng trong anata. Các phần đóng góp nhiều hay ít được biểu diễn bằng các đường liền hoặc đường chấm chấm tương ứng. TiO2 ở dạng anata có hoạt tính quang hóa cao hơn các dạng tinh thể khác, điều này được giải thích dựa vào cấu trúc vùng năng lượng.
Như chúng ta đã biết, trong cấu trúc của chất rắn có 3 miền năng lượng là vùng hóa trị, vùng cấm và vùng dẫn. Tất cả các hiện tượng hóa học xảy ra đều là do sự dịch chuyển electron giữa các vùng với nhau. Anata có năng lượng vùng cấm là 3,25 eV, tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 382 nm. Rutin có năng lượng vùng cấm là 3,05 eV tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 407 nm.
Giản đồ năng lượng của anata và rutin được chỉ ra trong hình 1. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng dẫn Vùng cấm VùngVùng hóahóa trị trị Rutin Anata Hình 1. Giản đồ miền năng lượng của anata và rutin Vùng hóa trị của anata và rutin như chỉ ra trên giản đồ là xấp xỉ bằng nhau và cũng rất dương, điều này có nghĩa là chúng có khả năng oxy hóa mạnh. Khi được kích thích bởi ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron hóa trị sẽ tách khỏi liên kết, chuyển lên vùng dẫn, tạo ra một lỗ trống mang điện tích dương ở vùng hóa trị.
Các electron khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích tại đó, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Như vậy lỗ trống mang điện tích dương có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị. Các lỗ trống này mang tính oxy hóa mạnh và có khả năng oxy hóa nước thành OH , cũng như một số gốc hữu cơ khác: TiO2 (h+) + H2O → OH + H+ + TiO2 (1.1) Vùng dẫn của rutin có giá trị gần với thế khử nước thành khí hidro (thế chuẩn = 0,00 V), trong khi với anata thì cao hơn mức này một chút, đồng nghĩa với một thế khử mạnh hơn.