MỞ ĐẦU Thế giới vào những năm đầu của thế kỷ thứ 21 đang đứng trƣớc nhiều vấn đề cần phải đối mặt. Trong đó, vấn đề đƣợc xem là nóng bỏng nhất và thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà khoa học cũng nhƣ chính phủ các quốc gia hiện nay là sự khủng hoảng về năng lƣợng. Cơ quan Thông tin Năng lƣợng [24] đã dự báo rằng nhu cầu tiêu thụ tất cả các nguồn năng lƣợng đang có xu hƣớng tăng nhanh. Giá của các năng lƣợng hóa thạch vẫn rẻ hơn so với các nguồn năng lƣợng hạt nhân và năng lƣợng tái tạo.
Đây chính là nguyên nhân khiến cho các nguồn năng lƣợng hóa thạch trên thế giới nhƣ dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên vẫn đƣợc coi là nguồn nhiên liệu chủ yếu để nhằm thỏa mãn những đòi hỏi về năng lƣợng và chính điều đó sẽ dẫn đến sự cạn kiệt nguồn năng lƣợng hóa thạch trong một thời gian không xa. Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, nhu cầu năng lƣợng ngày càng lớn, đối mặt với việc nguồn nguyên liệu hóa thạch, những nguồn năng lƣợng truyền thống đang dần cạn kiệt, chính phủ và các ngành chức năng đã đƣa ra nhiều biện pháp nhƣ tìm các nguồn năng lƣợng mới, tiết kiệm năng lƣợng. Đặc biệt là việc ban hành các quy định, các văn bản pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý việc khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch một cách bền vững. Luật thuế bảo vệ môi trƣờng đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, trong đó quy định thuế suất với các dạng nhiên liệu nhƣ xăng, dầu, than.
Khi Luật thuế bảo vệ môi trƣờng đƣợc thực thi sẽ gây ra những ảnh hƣởng về mặt kinh tế, môi trƣờng và xã hội. Vì vậy việc đánh giá và dự báo những ảnh hƣởng của Luật này là hết sức cần thiết. Đây chính là lí do mà đề tài “Đánh giá và dự báo ảnh hƣởng của Luật thuế bảo vệ môi 1 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ trƣờng tới sự phát triển năng lƣợng tái tạo ở Việt Nam” đƣợc lựa chọn để tiến hành nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp và cơ chế nhằm nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trƣờng đến phát triển các ngành năng lƣợng mới nhằm mục tiêu bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững.
2 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các vấn đề liên quan đến khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch 1. Sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch Nhu cầu năng lƣợng vẫn tăng lên đều đặn trong hai thập kỉ qua, nguồn nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 90% tổng nhu cầu về năng lƣợng cho đến năm 2010 và nhu cầu năng lƣợng trên thế giới cũng không đồng đều nhau. Đó là 3 nhận định chung nhất về tình hình năng lƣợng trên thế giới hiện nay.
Điều này đƣợc thể hiện rõ trong hình sau: History Triệu tấn dầu quy đổi Than Dầu Năng lượng tái tạo Thủy điện Khí Năng lượng hạt nhân Trung Quốc Thỏ Nhĩ Kỳ Hàn Quốc Indonexia Nam Mỹ Ukraina Canada Mehico Ấn Độ Brazil Ả rập Pháp Nhật Iran Đức Nga Mỹ Úc Ý Hình 1.1: Mức tiêu thụ năng lƣợng trên thế giới [Nguồn:www.edu] Nhƣ vậy có thể thấy giữa các khu vực, các nƣớc khác nhau có mức tiêu thụ năng lƣợng khác nhau. Các dạng năng lƣợng sử dụng trong mỗi quốc gia 3 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ cũng có tỷ lệ khác nhau, ví dụ nhƣ Trung Quốc và Mỹ là hai quốc gia tiêu thụ năng lƣợng nhiều nhất, ở Trung Quốc, dạng nguyên liệu chủ yếu là than, còn ở Mỹ các dạng nguyên liệu tƣơng đối cân bằng, chủ yếu là dầu, khí và than. Nguồn năng lƣợng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt, cụ thể: Sản lƣợng dầu giảm mạnh, năm 2009 giảm 2 triệu thùng, đây là mức giảm lớn nhất kể từ năm 1982. Các nƣớc OPEC giảm sản lƣợng khoảng 5 triệu thùng trong đó các nƣớc Ả Rập có trữ lƣợng giảm lớn nhất.
Đối với khí đốt, năm 2009 sản lƣợng khí đốt giảm 2,1%, trong đó sản lƣợng giảm mạnh nhất ở Nga và Turkmenistan. Đối với than, nhu cầu than cho sản xuất điện ngày càng tăng dự kiến tăng từ 41% - 44% vào năm 2030. Từ năm 2000, lƣợng than tiêu dùng tăng 4,9%/năm so với các dạng năng lƣợng khác. Năm quốc gia tiêu dùng than nhiều nhất là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Nga [10].
Với những số liệu trên, rõ ràng là nguồn nguyên liệu dầu và khí đốt ngày càng giảm mà nhu cầu về năng lƣợng của con ngƣời ngày càng tăng. Số liệu tổng quan về các nguồn nhiên liệu hóa thạch của thế giới theo Hội đồng năng lƣợng toàn cầu [24] đƣợc trình bày trong bảng 1.1: Trữ lƣợng năng lƣợng hóa thạch trên thế giới năm 2010 Dầu thô Khí tự nhiên Than đá Năng lƣợng (Mt) (Gm3) (Mt) Trữ lƣợng 163038 185544 860938 Khai thác 3948 3047 6739 Số năm khai thác còn lại 41.2 61 128 Nhƣ vậy trong vài chục năm tới với mức sử dụng năng lƣợng nhƣ hiện nay, nguồn nguyên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt. Điều này sẽ dẫn đến những biến động lớn về kinh tế và chính trị do sự tranh giành giữa các nƣớc về nguồn 4 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ năng lƣợng. Rõ ràng là năng lƣợng tái tạo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ổn định lại sự khủng hoảng năng lƣợng trên toàn thế giới.
Các vấn đề môi trường do sử dụng nhiên liệu hóa thạch Đối với khai thác và sử dụng than: việc khai thác và sử dụng than đá có tác động lớn tới môi trƣờng. Trong thăm dò, điều tra, khảo sát có thể gây tác động lớn tới tài nguyên đất, tài nguyên rừng, các khu vực sông suối tại vùng thăm dò, khảo sát. Có hai dạng mỏ than cơ bản là vỉa than lộ thiên trên bề mặt và các mỏ than nằm sâu dƣới lòng đất. Khai thác các vỉa than trên mặt thƣờng ít tốn kém, an toàn cho thợ mỏ và có thể khai thác triệt để hơn so với khai thác dƣới hầm mỏ.
Tuy nhiên khai thác trên bề mặt gây ra nhiều vấn đề môi trƣờng nhƣ làm mất lớp thực vật và lớp đất mặt, gia tăng xói mòn đất, mất nơi cƣ trú của nhiều loài sinh vật, đồng thời phƣơng pháp này tạo ra lƣợng đất thải lớn, nƣớc thoát ra từ những mỏ khai thác này chứa axit và các khoáng độc, gây ô nhiễm nƣớc, ô nhiễm đất. Khai thác than dƣới các hầm mỏ sâu dƣới lòng đất gây nguy hiểm cho con ngƣời với độ rủi ro cao, không khí dƣới hầm lò bị ô nhiễm do bụi, khí than, để chống lò phải tiêu hao một lƣợng gỗ nhất định và có thể xảy ra các tai nạn hầm lò nhƣ sụt, lún hầm, nổ khí than. Sau khi khai thác, quặng than cần đƣợc sàng, rửa để loại bỏ đất đá, các loại quặng khác. Khi nƣớc tiếp xúc với các kim loại nặng có trong đất đá thải hoặc vật liệu đã khai thác, có thể gây ra ô nhiễm nƣớc mặt và nƣớc ngầm.
Ngoài ra, ở nhiều nơi hoạt động khai thác gần khu dân cƣ đô thị khiến cho ngƣời dân chịu ô nhiễm bụi nặng nề. Việc đốt than gây ra ô nhiễm không khí do sự phát thải SO2, CO2, NOx,… Tính trên một đơn vị nhiệt lƣợng phát ra thì đốt than thải ra nhiều chất ô nhiễm hơn các nhiên liệu hoá thạch khác (dầu, khí). Than, nhất là than bitum, chứa lƣu huỳnh, ni-tơ. Khi đốt, chúng thải vào khí quyển các lƣu huỳnh oxit, nitơ oxit,… Các oxit này tác dụng với hơi nƣớc trong khí quyển thành mƣa 5 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ rơi xuống.
Chính vì vậy, việc đốt than đã gián tiếp góp phần vào quá trình biến đổi khí hậu làm suy thoái môi trƣờng toàn cầu mà nổi bật là hiện tƣợng hiệu ứng nhà kính và mƣa axít. Sau quá trình đốt than để lại một lƣợng phế thải rất lớn. Phế thải này gồm tro mịn bay lên không và xỉ cục đóng lại ở đáy lò. Trong xỉ than có thể có những chất độc hại sẽ thấm dần vào nƣớc ngầm.
Theo tính toán “một nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW hàng năm thải ra môi trƣờng 5 triệu tấn CO2, 18.000 tấn phế thải rắn” [9]. Trong thành phần chất thải rắn, bụi, nƣớc thải thƣờng chứa kim loại nặng và chất phóng xạ độc hại. Dầu và khí thiên nhiên Dầu và khí thiên nhiên có ở trong đất liền và ở ngoài biển khơi. Dầu và khí đốt đang và sẽ là nguồn năng lƣợng quan trọng trong vài thập kỷ tới.
Hiện nay, khai thác dầu và khí đốt đang tạo ra các vấn đề môi trƣờng nhƣ sau: - Khai thác trên thềm lục địa gây sụt lún đất, có vùng bị sụt tới 9m nhƣ LosAngeles (Mỹ) [9]. “Ô nhiễm có thể do dầu, thoát từ các túi chứa dầu tự nhiên. Hiện nay, ƣớc lƣợng hàng năm có 600.000 tấn dầu mỏ thoát vào nƣớc biển theo dạng này, chiếm 50% tổng số dầu ô nhiễm trong các đại dƣơng, 20% do dầu tràn khỏi giếng khai thác, vỡ ống dẫn dầu. Khai thác dầu trên biển hiện là nguyên nhân đóng góp khoảng 50% vào việc gây ô nhiễm biển” [9].
- Chế biến dầu gây ô nhiễm dầu và kim loại nặng, kể cả kim loại phóng xạ cho môi trƣờng đất và nƣớc khu vực. - Quá trình đốt dầu khí tạo ra các chất khí thải tƣơng tự nhƣ đốt than. Dầu đốt không sinh ra SOx,nhƣng lại sinh ra NOx, chủ yếu từ xăng đốt trong các xe ôtô. NOx và SOx do đốt dầu chỉ bằng 1/10 do đốt than, bụi ít hơn nhiều và không có xỉ than.
Đốt khí tự nhiên ít gây ô nhiễm hơn dầu và than, chỉ sinh ra CO2, một ít CO, NOx và hơi nƣớc, đây là dạng nhiên liệu hoá thạch sạch nhất. 6 La ThÞ CÈm V©n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ - Trong quá trình khai thác, vận chuyển dầu có thể gây ra các sự cố nhƣ tràn dầu do đắm tàu, rò rỉ giếng khoan,… Ô nhiễm dầu gây tác hại nghiêm trọng đến môi trƣờng. Những hợp phần nặng của dầu lắng xuống đáy hoặc bị sóng đánh dạt vào cửa sông sẽ tác động lâu dài lên hệ sinh thái. Dầu dạt vào bãi biển làm ngƣng các hoạt động đánh bắt hải sản, du lịch.