Chương 1: Những vấn đề chung về đô la hóa Chương 2: Thực trạng về mức độ đô la hóa ở Việt Nam Chương 3: Các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát tình trạng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay. CHUONG 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE ĐÔ LA HÓA 1.1- KHAI NIEM Đô la hoá (ĐLH) đã tồn tại ở nhiều quốc gia trong một thời gian đài trước khi khái niệm ĐLH thật sự thu hút được sự quan tâm của thế giới. Cho đến nay, thuật ngữ “ĐLH” mặc đù được sử dụng phê biến trong các công trình nghiên cứu về hiện tượng DLH nhưng hiện tại vẫn chưa có được một định nghĩa chung nhất và chính xác như thế nào là ĐLH. Tuy nhiên có thể tham khảo một số khái niệm sau: “ĐLH, hiện tượng người cư trú nắm giữ một lượng đáng kể tài sản của họ dưới hình thức ghi giá bằng ngoại tệ, là một đặc trưng chung của các quốc gia dang phát triển và chuyển đổi.
Đó là sự phản ứng đối với tình trạng bất én về kinh tế và lạm phát cao, thể hiện mong muốn đa dạng hoá danh mục tài sản của người cư trú trong nước. Ở những quốc gia từng trải qua lạm phát cao thì ĐLH là hiện tượng khá phô biến khi công chúng tìm kiếm sự bao vé tránh khỏi tốn kém trong nắm giữ tài sản có mệnh giá bằng nội tệ” 1 “ĐLH có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng của tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là ĐLH toàn bộ hoặc một phần”! Tóm lại, có thể hiểu: ĐLH là việc sử dụng ngoại tệ thay cho đồng bản tệ để thực hiện một phần hoặc toàn bộ các chức năng của tiền tệ. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì ĐLH là việc sử dụng ngoại tệ thay cho bản tệ làm phương tiện thanh toán hoặc tích trữ ngoại tệ đưới dạng tài sản hoặc là việc sử dụng đồng thời trong cả hai trường hợp đó. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ĐLH là tình trạng khi phần lớn các giao dịch tài chính được thực hiện thông qua đồng ngoại tệ, bên cạnh đồng bản tệ.
Có thể nói, ĐLH là tình trạng phổ biến của các nước đang phát triển và các nước dang trong quá trình chuyền đổi. Mỗi quốc gia đều có lịch sử riêng, đều có những điều kiện xã hội và kinh tế riêng. Vì vậy ở mỗi nước, nhà nước đều phát hành đồng tiền riêng của mình để nắm giữ quyền quan lý lưu thông tiền tệ trong phạm vi đất nước đó. Tuy nhiên, cùng với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, cần có sự thay đổi về tiền tệ giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế cũng như dân chúng.
Hiện tượng người dân của nước này sử dụng đồng tiền của nước khác được coi là một hiện tượng kinh tế khách quan ở các nước chuyên đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, nhưng câu hỏi đặt ra là những đồng tiền nào sẽ được sử dụng và sử dụng trong giới hạn nào? Trong hầu hết các hoạt động thương mại, tài chính trên thế giới hiện nay, đồng USD là đồng tiền được ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất nên thuật ngữ “đô la hóa” đã ra đời và về bản chất nó được coi là đồng nghĩa với “ngoại tệ hóa”. Theo số liệu thống kê, hiện nay khoảng 90% tổng thanh toán thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng đồng USD. Số còn lại là sử dụng đồng Euro và một số ngoại tệ khác. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết, có tới 70% giao dịch thương mại của doanh nghiệp Việt Nam sang Châu Âu là sử dụng đồng USD, trong khi đó đồng Euro chỉ chiếm 30% trong tổng giao dịch thương mại.2- PHÂN LOẠI Các nhà phân tích thường sử dụng ba tiêu chí sau để phân loại ĐLH: 1.1- Tiêu chí về tính hợp pháp: ĐLH được phân ra làm 3 loại: ĐLH chính thức (official dollarization), DLH không chính thức (unofficial dollarization) và một hình thái trung gian của hai loại ĐLN này là ĐLH bán chính thức (semiofficial dollarization).
- ĐLH chính thức là việc ngoại tệ được người cư trú sử dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ và được sự cho phép hoặc công nhận của luật pháp nước đó. Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường các nước chỉ áp dụng ĐLH chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế.
ĐLH chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước ĐLH chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp. - ĐLH không chính thức là việc ngoại tệ được người cư trú của một nước sử dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ nhưng không được phép hoặc không được sự công nhận của luật pháp nước đó. ĐLH không chính thức có thé bao gồm các loại sau: e Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
e Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài. e Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước. e Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi. - ĐLH bán chính thức: là sự ton tai dang xen cả hai hình thức ĐLH chính thức và ĐLH không chính thức.
Ở những nước có ĐLH bán chính thức, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chỉ tiêu hàng ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương (NHTW) để thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) của họ. Hầu hết các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi mới chuyển sang cơ chế thị trường đều có hiện tượng ĐLH mang tính chất của cả hai loại ĐLH nêu trên. Nhiều quốc gia cho phép người cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước và sử đụng đô la để niêm yết, thanh toán.
Vì vậy, đù nhiều hay ít thì các tổ chức và cá nhân đã sử dụng đô la với chức năng dự trữ giá trị và phương tiện thanh toán. Mặt khác, quy chế quản lý ngoại hối của các nước này thường hạn chế việc sử dụng ngoại tệ trong hầu hết các giao dịch giữa người cư trú với nhau nhưng do nhiều ly do mà hiện tượng này vẫn xảy ra bất chấp những quy định chặt chế của Nhà nước và tạo ra hiện tượng ĐLH không chính thức.2- Tiêu chí về quy mô sử dụng đồng ngoại tệ trong nền kinh tế: ĐLH toàn phần và ĐLH một phần. - ĐLH toàn phần là ngoại tệ được sử dụng trong toàn bộ nên kinh tế như là đồng tiền pháp định duy nhất hoặc đồng bản tệ chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể và được pháp luật cho phép. Chính vì vậy, ĐLH toàn phần luôn luôn là ĐLH chính thức.
- ĐLH một phần là việc ngoại tệ được sử dụng trong một phạm vỉ nào đó của nền kinh tế. ĐLH một phần có thể là ĐLH chính thức hoặc không chính thức.3- Tiêu chí về chức năng tiền tệ: ĐLH thay thế tài sản và ĐLH thay thế thanh toán. - DLH thay thế tài sản là việc người cư trú sử dụng ngoại tệ thay cho bản tệ trong chức năng dự trữ giá trị. Điều này thể hiện cả việc doanh nghiệp và người dân nắm giữ ngoại tệ tiền mặt và duy trì tài khoản ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng.
- DLH thay thế thanh toán là việc người cư trú sử dụng ngoại tệ thay cho nội tệ trong phương tiện thanh toán và đơn vị tính toán. DLH thay thế thanh toán và ĐLH thay thế tài sản có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.3- CÁC TIÊU THỨC LƯỢNG HÓA MUC BO DLH TRONG NEN KINH TE Về mat dinh tinh, mire d6 DLH thể hiện ở các chức năng của tiền tệ. Để đo lường tỷ lệ ĐLH của một nên kinh tế dựa vào ba tiêu thức sau: - Tỷ lệ dự trữ ngoại tệ của nền kinh tế trên tổng dự trữ của nền kinh tế - Tỷ lệ thanh toán bằng ngoại tệ trên tổng khối lượng thanh toán ~ Tỷ lệ các giao dịch được niêm yết, định giá bằng ngoại tệ trên tông các giao dịch. Tuy nhiên, việc lượng hóa được thành phần thứ hai và thứ ba là rất khó khăn ở các nước đang phát triển khi ở các nước này hiện tượng thanh toán bằng tiền mặt diễn ra khá phổ biến, hệ thống thông tin và thống kê còn yếu kém và chưa công khai mỉnh bạch.
Trong các trường hợp này, hầu hết các nhà kinh tế mới chỉ dừng lại ở việc lượng hóa tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ trên tổng tiền gởi và so với tổng phương tiện thanh toán (TPTTT) (hay lượng tiền cung ứng mở rộng). Với cách tiếp cận này, IMF đã đưa ra cách tính mức độ ĐLH của một nền kinh tế bằng tỷ lệ giữa lượng tiền gởi ngoại tệ tại các ngân hàng so với lượng cung ứng tiền mở rộng (M2). Theo cách tính này, một nền kinh tế có tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so với TPTTT lớn hơn 30% thì nền kinh tế đó được coi là bị ĐLH cao. Nếu tỷ lệ này lớn hơn 30% thì có nghĩa là hiện tượng ĐLH đã có tác động ở một mức độ nào đó đến CSTT của một quốc gia và cần được các nhà hoạch định chính sách lưu ý.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng thừa nhận là cụm từ “ở một mức độ nào đó” cũng chưa rõ ràng do ở nhiều nước có tỷ lệ ĐLH cao nhưng CSTT vẫn tỏ ra vững vàng. Theo đánh giá của IME năm 1998, 19 nước có mức độ ĐLH cao bao gồm: Argentina, Azerbaijian, Belarus, Bolivia, Cambodia, Costa Rica, Croatia, Georgia, Guinea — Bissau, Laos, Latvia, Mozambique, Nicaragua, Peru, Sao Tome, Principe, Tajikistan, Turkey va Uruguay; 35 nước có mức độ ĐLH cao vừa phải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng 16,4% bao gồm: Albania, Armenia, Bulgaria, Cộng hòa Czech, Dominica, Honduras, Hungary, Jamaica, Jordan, Lithuania, Macedonia, Malawi, Mexico, Moldova, Pakistan, Phillippines, Poland, Romania, Russia, Sierra Leone, Cộng hòa Slowak, Trinidad, Tobago, Uganda, Ukraine, Uzbekistan, Viét Nam, Yemen va Zambia.