CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Choivay là hoạt độngitruyền thống và quanitrọng nhất của NHTM nói chung và các chiinhánh NHTM nóiiriêng. Choivay chiếmitỷ trọng caoinhất trong tổngitài sản, tạo thuinhập từ lãiilớn nhất và cũng là hoạtiđộng mang lạiirủi ro nhất.
Theo Nguyễn Thị Thu Hà (2013), “Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên là chi nhánh NHTM chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời gian đã thỏa thuận”. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Mục 1 Khoản 2: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng chuyển hoặc cam kết chuyển cho khách hàng một số tiền tiền, được sử dụng theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi một mục đích nhất định theo thời gian.TS Tô Ngọc Hưng (2009), “Cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ cho vay mà Ngân hàng thương mại chuyển giao về vốn trong một thời gian nhất định từ Ngân hàng thương mại tới các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh.” Như vậy, có thể hiểu là cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức hỗ trợ tài chính của ngân hàng tới các cá nhân. Cá nhân gửi yêu cầu vay vốn, nếu được phê duyệt đủ điều kiện vay, ngân hàng sẽ giải ngân một khoản tiền tới khách hàng. Khách hàng phải cam kết trả gốc và lãi trong thời gian đã cam kết khi vay.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Đối tượng cho vay: là cácicá nhân, hộigia đình cóinhu cầuivay vốnisử dụng choicác mục đíchitiêu dùng hoặc nhuicầu sản xuấtikinh doanh. Thờiihạn vay: Với nhữngikhoản vay bổisung vốnilưu độngiphục vụisản xuất kinhidoanh chủ yếu làivay ngắnihạn. Còn nhữngikhoản vayiphục vụ nhu 9 cầu tiêuidùng của cáinhân và hộ giaiđình thì thường là vayitrung và dàiihạn. Quyimô và sốilượng các khoảnivay: Nếu vay doanhinghiệp có thể phátisinh hàng ngàyivới số vốnivay tươngiđối lớn thì các đốiitượng KHCN thường thựcihiện vayitrả nhanh gọn, với quyimô nhỏihơn.
Chiiphí cho vay: Việc thẩmiđịnh các khoảnivay của KHCN thôngithường tốnikém ít thờiigian và chiiphí, hồ sơ vayicũng đơnigiản hơn. Lãiisuất cho vay: Lợiiích mang lại từ cácikhoản vay cáinhân thường thấp hơniso với kháchihàng tổ chứcitrong khi khảinăng xảy rairủi ro của đốiitượng khách hàngicá nhân lại caoihơn,vì vậy, ngânihàng áp dụngimức lãi suấticao hơn. Hồisơ xét duyệticho vay: đơnigiản và có tínhiđảm bảoivề mặt phápilý thấp hơniso với đốiitượng kháchihàng là doanhinghiệp. Rủi roitín dụng: Các khoản cho vay cá nhân luôn tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao.
Người vay là cá nhân, hộ gia đình riêng, tình hình tài chính có thể dễ dàng thay đổi tùy theo công việc và tình trạng sức khỏe. Trong sản xuất, kinh doanh, các cá nhân, hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, khoa học công nghệ lạc hậu nên khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu. Vì vậy, ngân hàng phải chấp nhận rủi ro nếu người đi vay thất nghiệp, gặp tai nạn hoặc phá sản. Mặt khác việcithẩm định và quyếtiđịnh cho vayikhách hàng cáinhân thường khôngiđầy đủ về thông tinikhách hàngicũng như cácithông tinikhông minhibạch cũngilà mộtitrong những lýido dẫn tớiitình trạng rủi roitín dụng đốiivới các khoảnicho vay khách hàngicá nhân.
Vai trò của hoạt cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Đối với ngân hàng: Đầu tiên là đẩy mạnh việc củng cố thương hiệu ngân hàng. Nhờ có đối tượng rất rộng, việc phát triển cho vay cá nhân thúc đẩy việc quảng bá rộng rãi hình ảnh thương hiệu của ngân hàng thông qua cho vay cá nhân. Ngoài việc cung cấp tín dụng khoa học công nghệ, ngân hàng còn có thể bán chéo các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ như tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, phát hành và thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng trực tuyến. … 10 Một mục tiêu khác là nâng cao rủi ro của ngân hàng.
Nếu ngân hàng chỉ tập trung cho vay đối với các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn cao thì vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng doanh nghiệp này gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, từ đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặp khó khăn và thua lỗ lớn. Vì vậy, với tôn chỉ “không bỏ hết trứng vào một giỏ”, các ngân hàng phát triển tín dụng cá nhân với tư cách là người chia sẻ rủi ro, bởi đối với số lượng lớn khách hàng, số tiền cho vay nhỏ nếu một khách hàng lớn hoặc nhỏ. Nhiều khách hàng phải đối mặt với rủi ro dẫn đến mất khả năng trả nợ, điều này không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với nền kinh tế: Tín dụng khách hàng cá nhân thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đó là kênh hỗ trợ vốn nhằm đáp ứng các chi phí phát sinh trong cuộc sống, từ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu đến những chi phí đắt đỏ đến những nhu cầu xa xỉ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần của xã hội phải nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Ngoài ra, tín dụng khách hàng cá nhân thúc đẩy việc phân bổ vốn hiệu quả. Nhìn chung, tín dụng cá nhân với tư cách là một phần của tín dụng có vai trò tích cực trong xã hội, chẳng hạn nó góp phần tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và từ đó góp phần lưu thông thuận lợi các nguồn vốn đó, từ nơi có hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao… 1.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại * Theo mục đích vay Theo mụciđích vay, choivay KHCNiđược chiaithành 3 loại: Choivay KHCN phụcivụ mục đíchicư trú, cho vay KHCN phụcivụ mục đích tiêuidùng và cho vay KHCN phụcivụ mục đíchisản xuất kinh doanh. - Cho vayiKHCN phụcivụ mục đíchicư trú là cácikhoản vay phụcivụ nhu cầuixây dựng, sửaichữa, cải tạoinhà ở… của cáinhân, hộ giaiđình.Những khoản vay nàyithường cóithời gian và quyimô vay lớn. 11 - Cho vay KHCN phục vụ mục đích tiêu dùng là các khoản vay nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu phục vụ đời sống của KH như mua sắm vật dụng gia đình, du lịch, học tập,…. Đặc điểmicủa nhữngikhoản vayinày là quyimô nhỏ, thời gianingắn, rủi roithấp.
- Cho vay KHCN phục vụ sản xuất kinh doanh là khoản vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình… * Theo phương thức hoàn trả Theo phương thức hoàn trả, cho vay KHCN được chia thành: - Trả mộtilần khi đáoihạn là các khoảnivay được thanhitoán mộtilần (cả gốcivà lãi) khi khoảnivay đáo hạninhằm đápiứng nhuicầu tiềnimặt tức thời. - Choivay trảigóp là khoảnicho vayingắn hạn hoặcidài hạn đượcithanh toánitheo kỳ (thườngitheo tháng hoặciquý) nhiềuilần liên tiếp, đượcidùng cho việc muaisắm các vậtidụng đắtitiền nhưiô tô, nhà,… - Vay theo hạn mức tín dụng (thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng cá nhân): Thẻ tín dụng cung cấp hạn mức tín dụng thường xuyên, quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ cần. Khách hàng có thể trả dần, trả từng phần hoặc trả một lần tùy theo nguồn tiền của họ. * Căn cứ thời hạn cho vay Căn cứithời hạn choivay, cho vayiKHCN baoigồm choivay ngắnihạn, trung hạnivà dài hạn.
- Khoản vay ngắn hạn là khoản vay có thời hạn không quá 12 tháng. Mục đích của loại khoản vay này là để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Chính vì vậy, gói vay này phù hợp với những mục đích sử dụng mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đầu tư các trang thiết bị, máy móc khác nhau phục vụ nhu cầu sản xuất.
Đối với cá nhân, mọi người thường sử dụng gói vay này khi có ý định mua nhà và trả ngắn hạn. Ngoài ra, nóicũng là lựaichọn để đápiứng nhuicầu muaisắm tiêu dùngicá nhân. 12 - Choivay dài hạnilà loại choivay trên 5 năm, hìnhithức vayinày phụcivụ chủ yếuicho mục đíchiđầu tư vàoixây dựng cơibản, đầu tưicải tiến kỹithuật, mở rộngisản xuất kinhidoanh, muaisắm tài sảnicố định hoặciđầu tư dàiihạn cho cá nhânicũng như doanhinghiệp. Do tàiisản và vốnicủa kháchihàng, choivay trungivà dài hạnicủa các NHTM thườngigắn liềnivới các dựián đầu tư, rủi roicao hơn, thờiigian hoànivốn chậm hơn.
* Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay - Khoản vay có bảo lãnh là khoản vay được bảo đảm bằng tài sản của người đi vay như: địa ốc… - Vay không có bảo đảm là khoản vay dựa trên uy tín tín dụng (ủy thác) hoặc dựa trên sự bảo lãnh của bên thứ ba mà không cần tài sản đảm bảo của người đi vay. Rủi ro tín dụng đối với cho vay khách hàng cá nhân 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng tồn tại tất yếu trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Nếu hiểu rõ rủi ro thì ta có thể chấp nhận rủi ro một cách có ý thức, có biện pháp để đối phó với rủi ro.
Rủi ro tín dụng có thể đo lường và tính toán trước được nên có thể quản trị được rủi ro tín dụng. Theo Basel II (2004) thì: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thua lỗ đối với ngân hàng là việc chủ nợ không trả được nợ trong hợp đồng, trong đó việc vỡ nợ được định nghĩa là bất kỳ vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng trong quá trình trả nợ và lãi. Ởinước ta, kháiiniệm rủiiro tín dụngiđược phảniánh quaithông tư 02/2013/TT-NHNN quy địnhivề phâniloại tài sảnicó, mứcitrích, phươngipháp trích lậpidự phòngirủi ro và việcisử dụngidự phòngiđể xử lýirủi ro trongihoạt độngicủa tổ chứcitín dụng, chiinhánh ngânihàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ 13 chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.