CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH THẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại của thẻ 1.1 Khái niệm Theo các quan điểm kinh tế học, thẻ thanh toán có thể được hiểu là chìa khóa đa năng để Chủ thẻ kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình. Thẻ thanh toán là công cụ thanh toán do TCPHT cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa TCPHT và Chủ thẻ. [21] Xét từ góc độ luật học, khái niệm thẻ thanh toán đã xuất hiện trong văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1994 mặc dù chưa được định nghĩa chính thức. Tại Điều 24 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21-02-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thẻ thanh toán mới chỉ được giải thích là “do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.” Cũng tại Điều 24 Thể lệ này, thẻ thanh toán được phân loại gồm thẻ ghi nợ, thẻ ký quỹ thanh toán và thẻ tín dụng.
[21] Khái niệm về các loại thẻ theo thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà Việt Nam số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016. Theo đó, thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.[21] Thẻ ngân hàng sẽ bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước. Khoản 2 Điều 3 Thông tư này có định nghĩa “Thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ”. Theo khoản 3 điều 3 của Thông tư này định nghĩa “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép Chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận c 2 với tổ chức phát hành thẻ”.
Và theo khoản 4 điều 3 thông tư thì “Thẻ trả trước(prepaid card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Trong đó, khái niệm “giao dịch thẻ” được hiểu là “việc sử dụng thẻ để gửi, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng”.2 Đặc điểm Thẻ mang những đặc trưng như sau: - Thứ nhất, thẻ luôn gắn liền với một chủ thể nhất định. Chủ thể này chính là chủ sở hữu của thẻ. Tên, hình ảnh của chủ thẻ được in ngay trên thẻ và chủ thẻ cũng phải ký tên lên mặt sau của thẻ ngay khi nhận thẻ trước sự chứng kiến của nhân viên TCPHT (đối với thẻ ghi nợ chỉ có tên không có hình ảnh).
- Thứ hai, thẻ được phát hành từ một thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT. Thỏa thuận này có hình thức pháp lý là Hợp đồng sử dụng thẻ. Riêng đối với thẻ tín dụng, để đi đến ký kết được hợp đồng sử dụng thẻ, chủ thẻ phải chứng minh được năng lực chủ thể, khả năng tài chính, khả năng trả nợ của mình. Là một đơn vị kinh doanh chuyên nghiệp về trung gian thanh toán và tín dụng, TCPHT sẽ đặt ra các điều kiện để thẩm định các khả năng này của chủ thẻ.
- Thứ ba, thẻ luôn gắn liền với một tài khoản ngân hàng nhất định. Đó là tài khoản của chính Chủ thẻ mở tại TCPHT - nếu TCPHT cũng là ngân hàng - hoặc tại một ngân hàng mà TCPHT ủy quyền - nếu TCPHT không phải là ngân hàng. - Thứ tư, Thẻ làm phát sinh quan hệ cam kết thanh toán liên hoàn (đối với thẻ tín dụng). Cam kết thanh toán liên hoàn là các cam kết thanh toán của các Tổ chức trung gian cho ĐVCNT.
- Thứ năm, Thẻ làm phát sinh quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ với TCPHT (đối với thẻ tín dụng).3 Phân loại Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ. - Thẻ nội địa: Là loại thẻ có phạm vi sử dụng và thanh toán trong một nước. NHPH và cơ sở chấp nhận thẻ cùng trong một nước. Đồng tiền của thẻ chỉ duy nhất là đồng nội tệ.
Tại Agribank: Thẻ nội địa các sản phẩm thẻ ghi nợ(thẻ Success và Plus Success), thẻ liên kết thương hiệu(thẻ sinh viên và thẻ lập nghiệp) do Agribank phát hành, cho phép chủ thẻ sử dụng trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và (hoặc) hạn mức thấu chi để thực hiện rút/ ứng tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các dịch vụ ngân hàng khác tại ĐVCNT và ĐƯTM trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam(trừ trường hợp kết nối qua Banknet). - Thẻ quốc tế: Là các loại thẻ do các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế (là thành viên của của tổ chức thẻ quốc tế) phát hành. Thẻ này có thể thanh toán ở tất cả các đơn vị chấp nhận thẻ trên thế giới. Tại Agribank: Thẻ quốc tế là các sản phẩm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng mang thương hiệu Visa/MasterCard do Agribank phát hành, cho phép chủ thẻ sử dụng trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và (hoặc) hạn mưc thấu chi/hạn mức tín dụng để thực hiện rút/ứng tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các dịch vụ ngân hàng khác tại ĐVCNT và ĐƯTM trên phạm vi toàn cầu.
Phân loại theo đối tượng sử dụng thẻ. - Thẻ cá nhân: Là thẻ được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng được được đủ các điều kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình. Riêng đối với thẻ quốc tế và thẻ tín dụng, thẻ cá nhân có hai loại thẻ chính và thẻ phụ.
+ Thẻ chính: Do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ chính. + Thẻ phụ: Chủ thẻ chính xin phát hành thẻ phụ cho người khác sử dụng ( chủ thẻ phụ). Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm toàn bộ chi tiêu của chủ thẻ phụ. - Thẻ công ty: Là loại thẻ dùng cho công ty thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình.
Công ty đứng tên ký hợp đồng sử dụng thẻ và uỷ quyền cho người c 4 đứng tên trong thẻ để sử dụng, đồng thời mọi thanh toán liên quan đến thẻ đều do công ty thanh toán với ngân hàng phát hành. Phân loại theo hạn mức tín dụng Để khác hàng biết được hạn mức tín dụng của khách hàng được tính theo tình hình tài chính và những thông tin khác mà mình cung cấp cho ngân hàng khi đăng ký cấp thẻ tín dụng. Ngân hàng xem xét những thông tin này và những thông tin khác và quyết định cấp hạn mức cho khách hàng phù hợp, giảm thiểu rủi ro,tiêu thức này phân theo 2 loại: + Thẻ vàng, thẻ bạch kim: Là loại thẻ được phát cho những đối tượng có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng nhưng chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
+ Thẻ thường: Đây là loại thẻ căn bản nhất, phổ biến đại chúng nhất, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tối thiểu tuỳ theo ngân hàng phát hành quy định. Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất. - Thẻ dập nổi (Embossed Card): hiện nay, hầu như loại thẻ dập nổi không còn sử dụng nữa.
- Thẻ từ tính (Magnetic Card): Các thông tin về thẻ trên một giải băng từ - Thẻ thông minh (IC/Smard Card): Các thông tin được lưu trữ bằng các vi mạch. Hiện nay, thẻ này được sử dụng phổ biến.2 Các thành viên liên quan đến thẻ Hiện nay lĩnh vực thẻ trong một quốc gia có sự tham gia chặt chẽ của 4 thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối vởi thẻ tín dụng quốc tế còn thêm 1 thành phần nữa là các tổ chức thẻ quốc tế.1 Chủ thẻ Chủ thẻ là người sở hữu hợp pháp chiếc thẻ. Chủ thẻ là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng.
Chủ thẻ được phép dùng chiếc thẻ để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền. Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ để mua hàng hoá dịch vụ hoặc trả nợ, c 5 chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và lập biên lai thanh toán. Đối với thẻ tín dụng sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê. Sao kê là bản thông báo chi tiết toàn bộ các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻ, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán hoặc số tiền thanh toán tối thiểu bắt buộc, các khoản lãi và phí phát sinh và các thông báo liên quan tới việc sử dụng thẻ tín dụng.
Căn cứ vào thông tin trên sao kê, chủ thẻ sẽ thực hiện thanh toán khoản tín dụng thẻ đã sử dụng cho ngân hàng phát hành thẻ tín dụng.2 Tổ chức phát hành thẻ: Là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện phát hành thẻ cho chủ thẻ. Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và ra quyết định phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc theo dõi chi tiêu, thanh toán cuối cùng với chủ thẻ. Điều kiện bắt buộc không thể thiếu đó là: ngân hàng phát hành phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế. Ngân hàng phát hành thẻ phải ký kết với chủ thẻ các điều khoản, điều kiện sử dụng và thanh toán thẻ trên cơ sở pháp luật và những điều khoản chung của các tổ chức thẻ quốc tế.