Lời mở đầu Trong thời đại ngày nay, công nghệ thông tin đã phát triển vƣợt bậc với nhiều công nghệ mới và hỗ trợ đắc lực cho nhiều lãnh vực nhƣ tài chính, y tế, sinh học, thiên văn học, … Ngành công nghệ thông tin là ngành kỹ thuật luôn tạo ra các phát minh để phát triển tự động hóa, hệ thống quản lý đến trí tuệ nhân tạo. Ngành hệ thống thông tin quản lý là ngành học giao thoa giữa công nghệ thông tin và kinh doanh. Nó giúp cho công nghệ thông tin sẽ hỗ trợ phù hợp nhất và hỗ trợ đắc lực nhất cho kinh doanh nói chung và ngành ngân hàng riêng. Ngành ngân hàng luôn là tâm điểm trong nền kinh tế với các dịch vụ tín dụng, huy động, thẻ và ngân hàng điện tử.
Trong đó, dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử là các dịch vụ luôn phát triển mạnh mẽ. Với nền công nghiệp thẻ thanh toán, luôn luôn có sự phát triển, ngày càng bảo mật. để giao dịch thẻ an toàn. Con ngƣời không cần sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán hằng ngày.
Thay vào đó là sự tiện ích của thẻ, ví điện tử, mobile commerce. Trong đó có thẻ tín dụng, một công cụ thanh toán lai giữa vay tiêu dùng và tiện ích thẻ. Nó có đặc điểm ƣu việt là sử dụng trƣớc, trả tiền sau. Thẻ tín dụng đƣợc phát hành dựa trên khả năng trả nợ hoặc uy tín của khách hàng.
Nhƣ vậy làm sao để quản lý tốt nợ thẻ tín dụng? Đó là yêu cầu đặt ra trong việc kinh doanh thẻ tín dụng.2 Lý do nghiên cứu Trong những năm gần đây, các ngân hàng thƣơng mại chú trọng đầu tƣ các dịch vụ tiện ích theo hƣớng ngân hàng bán lẻ. Trong đó, thẻ và các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt là sản phẩm đƣợc quan tâm hàng đầu. Hàng loạt các chƣơng trình khuyến mãi đƣợc triển khai để thúc đẩy phát hành thẻ. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đầu tƣ vào các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhƣ: dịch vụ thanh toán trên ATM, mở rộng các thiết bị thanh toán POS tại các điểm nhà hàng, cửa hàng, kết nối nhiều dịch vụ thanh toán trực tuyến nhƣ nạp tiền điện thoại, thanh toán hóa đơn điện nƣớc, mua hàng trên website… 7 Theo báo cáo trong hội nghị thƣờng niên năm 2016 của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, đến cuối năm 2015: tổng số lƣợng thẻ phát hành lũy kế đạt trên 91 triệu thẻ, tăng trƣởng 14,13% so với năm 2014; về cơ sở hạ tầng phục vụ khách hàng giao dịch thanh toán thẻ, các NHTV đã lắp đặt đƣợc 16.596 thiết bị EDC/POS; các NHTV chú trọng nâng cao chất lƣợng dịch vụ thẻ; phát triển các hình thức thanh toán hiện đại, gia tăng tính năng cho sản phẩm thẻ (đặc biệt là thẻ nội địa), đặc biệt là sự kiện sáp nhập hai tổ chức chuyển mạch thẻ lớn nhất Việt Nam là Banknetvn và Smartlink (2 tổ chức thành viên của Hội thẻ) thành một đơn vị duy nhất tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM và khách hàng sử dụng thẻ, mở rộng mạng lƣới chấp nhận thanh toán trên thị trƣờng thẻ Việt Nam.
Trong đó, thẻ tín dụng đã phát hành vƣợt mốc 3,32 triệu thẻ. Thẻ tín dụng đƣợc các NHTM phát triển mạnh với thủ tục đơn giản và nhanh chóng. Đây cũng là một hình thức cho vay tiêu dùng để tăng trƣởng tín dụng ngân hàng. Việc phát triển mạnh về số lƣợng và dƣ nợ thẻ tín dụng dẫn đến nguy cơ về nợ xấu thẻ tín dụng tăng cao.
Theo thông tƣ số 02/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà Nƣớc Việt Nam (Thông tƣ 02), nợ thẻ tín dụng là một thành phần đánh giá chất lƣợng tín dụng của khách hàng. Nếu thẻ tín dụng không trả nợ đúng hạn, hoặc không có khả năng trả nợ sẽ kéo theo các khoản tín dụng khác cũng bị xếp nhóm nợ xấu. Thẻ tín dụng thƣờng đƣợc cấp hạn mức từ 10 triệu đến 500 triệu, đây là khoản tín dụng nhỏ đối với ngân hàng nhƣng nếu không đƣợc quan tâm đúng mức sẽ kéo theo các khoản tín dụng lớn khác bị xếp nhóm nợ xấu. Điều này làm cho tỷ lệ nợ xấu trong ngân hàng tăng cao và làm tăng khoản tiền trích lập dự phòng rủi ro.
Do đó, việc phát triển thẻ tín dụng phải đƣợc quan tâm về số lƣợng và chất lƣợng nợ, quan tâm đến khả năng trả nợ của khách hàng. Qua những yếu tố kể trên, chất lƣợng thẻ tín dụng cần đƣợc quan tâm và quản lý chặt chẽ từ khâu cấp thẻ tín dụng cho khách hàng đến theo dõi và quản lý giao dịch, tình trạng trả nợ của khách hàng. Cần thiết nghiên cứu về hành vi tiêu dùng, khả năng trả nợ và tình hình tài chính của khách hàng để có các biện pháp quản lý, phát hiện rủi ro tín dụng thẻ.3 Vấn đề nghiên cứu Ngành công nghiệp thẻ đã phát triển từ rất lâu trên thế giới. Tại Việt Nam, kinh doanh thẻ phát triển từ những năm 2000.
Thẻ tín dụng đang đƣợc đẩy mạnh phát triển vì tính năng thanh toán tiện lợi của nó. Trong kinh doanh thẻ tín dụng có nhiều loại rủi ro: - Rủi ro tín dụng thẻ: Là loại rủi ro xuất hiện khi chủ thẻ không thực hiện nghĩa vụ nợ đối với ngân hàng, có nghĩa là chủ thẻ trả nợ trễ hạn hoặc không trả nợ cho ngân hàng. - Rủi ro gian lận thẻ: Là loại rủi ro khi thẻ bị lộ thông tin. Các tội phạm công nghệ cao có thể làm giả thẻ để giao dịch gây tổn thất cho ngân hàng và khách hàng.
- Rủi ro hệ thống: Là loại rủi ro khi hệ thống gặp sự cố gây ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh thẻ. Đề tài nghiên cứu tập trung vào rủi ro tín dụng thẻ. Rủi ro tín dụng thẻ là việc khách hàng mất khả năng trả nợ, chậm trả nợ, khách hàng bị nợ quá hạn và/hoặc khách hàng trả nợ trễ hạn trong vài kỳ. Tóm lại là các nguyên nhân dẫn đến khách hàng không trả nợ đúng hạn hàng tháng theo thông báo giao dịch.
Trong kinh doanh thẻ, lợi nhuận đƣợc tính bằng thu nhập trừ đi chi phí trong hoạt động kinh doanh. - Các nguồn thu nhập: thu nhập từ phí thƣờng niên, phí dịch vụ, phí rút tiền mặt và lãi vay … - Các loại chi phí: chi phí phôi thẻ, chi phí trích lập dự phòng nợ quá hạn, chi phí hoạt động, chi phí đầu tƣ hệ thống … Các loại chi phí kể trên là cố định so với vòng đời của thẻ. Các nguồn thu nhập thì đƣợc phát sinh trong vòng đời sử dụng của thẻ. Nhƣ vậy, để tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thẻ, cần tăng các nguồn thu nhập từ thẻ.
Tuy nhiên, các nguồn thu nhập này khi phát sinh chỉ là khoản nợ đƣợc ghi lên hóa đơn thẻ tín dụng của khách hàng. Khi khách hàng trả tiền thì nó mới đƣợc gọi là thu nhập thực từ kinh 9 doanh thẻ. Việc khách hàng có khả năng trả nợ hay không sẽ quyết định lợi nhuận từ việc kinh doanh thẻ. Đề tài nghiên cứu về lợi nhuận ngân hàng sẽ có thêm từ các khách hàng chậm trả nợ và chắc chắn trả nợ trong tƣơng lai.
Từ các yếu tố kể trên, đề tài hƣớng đến xây dựng hệ thống hỗ trợ nhận diện rủi ro tín dụng thẻ để hạn chế rủi ro và tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh thẻ.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Về mặt ý nghĩa khoa học, đề tài đƣa ra mô hình các nguyên nhân dẫn đến mất khả năng trả nợ của chủ thẻ tín dụng áp dụng trong thị trƣờng thẻ ở Việt Nam và có xét đến yếu tố lợi nhuận từ rủi ro tín dụng thẻ. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài mang tính ứng dụng thực tiễn cao. Hệ thống nhận diện rủi ro thẻ tín dụng có thể đƣợc sử dụng thực tế trong ngân hàng để hỗ trợ quản lý rủi ro. 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về thẻ tín dụng 2.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thực hiện các giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc hai bên thỏa thuận.
Khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt, thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ tại ngân hàng, các đại lý chấp nhận thẻ, các máy rút tiền tự động trong phạm vi số dƣ tiền gửi thanh toán hoặc hạn mức tín dụng cho phép. Trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19/10/1999, thẻ ngân hàng đƣợc định nghĩa là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007, thẻ ngân hàng là phƣơng tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc hai bên thỏa thuận.2 Phân loại thẻ ngân hàng Trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007, thẻ ngân hàng đƣợc phân thành các loại sau: - Phân theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: o Thẻ nội địa: Là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong lãnh thổ nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. o Thẻ quốc tế: Là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nƣớc Cộng hoà xã hội chủ 11 nghĩa Việt Nam; hoặc là thẻ đƣợc tổ chức nƣớc ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phân theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: o Thẻ ghi nợ (debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. o Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ. o Thẻ trả trƣớc (prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền đƣợc nạp vào thẻ tƣơng ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trƣớc cho tổ chức phát hành thẻ.