Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới Khi xã hội loài người hình thành chúng ta đã biết sử dụng các loài thực vật để sinh tồn và chống chọi với thiên nhiên, bệnh tật, họ đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên để phục vụ cuộc sống của mình như sử dụng làm thức ăn, nhà ở, làm thuốc, mồi săn bắt…Từ những kinh nghiệm đó, dần dần hình thành một khoa học gọi là Thực vật dân tộc học. Khoa học này nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ. Mỗi quốc gia đều có những nền y học cổ truyền riêng, đặc biệt trong đó có những kinh nghiệm tìm kiếm và sử dụng những cây thuốc để phòng và trị bệnh ở người, vật nuôi.
Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, đó là những nét khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử dụng cây carum và cây húng tây. Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng cây thuốc xuất hiện từ rất lâu đời. Rễ của cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được cất giữ quanh bộ xương người có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Irắc.
Cho đến nay, giá trị làm thuốc của ba loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận. Điều này cho thấy, trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi có sự ghi chép của sử sách. Hiện nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên thế giới ước tính từ khoảng gần 70. Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Phi,… là kho tàng chứa đựng số lượng loài cây cỏ khổng lồ, cũng như giàu có về tri thức sử dụng.
Ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc, riêng ở Ấn Độ có 6.000 loài, ở Trung Quốc là 5. Trung Quốc là quốc gia được đánh giá là có truyền thống trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc và có sự đa dạng về cây thuốc phát triển bậc nhất thế giới. Cách đây khoảng 5000 năm tại Trung Quốc, cuốn sách “Thần nông bản thảo” là một trong những tài liệu cổ quý giá của y học dân tộc. Bản thảo đã ghi rõ người Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị và cây thuốc để phòng và chữa bệnh.
Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn được sử dụng cho tới ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp.) để chống nôn, cây Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong…Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang (túi thơm) để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên) trong cuốn sách 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”.
Ngoài nền Y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền Y học riêng của mình, gọi là Y học dân tộc cổ truyền biết sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc. Trong đó, có các nền Y học chính là: Y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài)…“Shennong Bencao Jing” là cuốn sách được đặt theo tên của Thần Nông, cuốn sách đã đề cập tới 364 thảo dược của Trung Quốc; bao gồm 252 loại bộ phận của cây, 67 bộ phận của động vật và 46 loại khoáng sản làm thuốc, trong đó cũng đã mô tả tác dụng chúng [11]. Cuốn sách đã tạo nên nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến nay. Năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Đại từ điển đông dược”, cuốn sách đã thống kê 5.757 mục từ, trong đó đa số là các loại thảo dược.
Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” đã được xuất bản, cuốn sách đã thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [86]. Và gần đây Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng chữ cái Latinh [14]. Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời, cách đây khoảng 5.000 năm dọc theo bờ sông ở miền Nam Ấn Độ. Trong bộ sử thi Vedas được viết năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về thảo dược thời kỳ đó.
Theo những ghi chép còn sót lại cho thấy nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh. Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos L.) là cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền thờ [90]. Gần đây, y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda đã phát triển rất mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và sử dụng có hiệu quả, trong đó có khoảng 2.000 cây cỏ làm thuốc.
Dãy Hymalaya hùng vĩ của đất nước Ấn Độ, là nơi có sự đa dạng về thực vật rất lớn, ở đây có khoảng 8.000 loài thực vật hạt kín, 44 loài thực vật hạt trần, trong đó có 1.748 loài được sử dụng làm thuốc. Ngoài Hymalaya thì khu vực Hy Mã Lạp Sơn (IHR) cũng là cái nôi cung cấp nguồn cây thuốc cho hàng triệu người dân Ấn Độ. Ấn Độ được đánh giá là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người. Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cây thuốc.
Hầu hết các viện nghiên cứu của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Ở châu Âu, thảo dược cũng rất đa dạng và phần lớn dựa vào nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu nghiên cứ và sưu tầm. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập.
Trong đó hiểu biết về thảo mộc của người Hy Lạp và Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ. Người Hy Lạp cổ xưa chịu ảnh hưởng của người Babylon, Ai Cập, Ấn Độ. Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp được mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”. Tiếp đến là Ai Cập là nước có nền văn minh Cổ Đại và có nhiều tài liệu về sử dụng cây thuốc được ghi chép lại cách đây khoảng 3600 năm với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc từ cây cỏ [30].
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Dương, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều loài cây thuốc có giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây, Erry đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách: “Medicinal Plant of East and Southeast Asia” [3]. Được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thê giới. Thổ dân Châu Úc với những kiến thức thực tiễn về cây thuốc chỉ có ở Úc được đánh giá hiệu quả rất cao trong trị bệnh.
Đặc biệt là những nghiên cứu về công dụng làm thuốc của các loài thực vật do thổ dân Yaegl sử dụng. Khi nghiên cứu về tình hình sử dụng cây thuốc của người thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia. Nghiên cứu đã ghi nhận có 32 loài cây thuốc thuộc 21 loài được thổ dân Yaegl sử dụng để điều trị bệnh [13]. Tuy nhiên những kiến thức này của họ đã không còn khi người Châu Âu tới định cư.
Hiện nay đa phần thảo dược ở Châu Úc là sự di nhập từ Phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước ven Thái Bình Dương. Ở châu Phi Là một trong những Châu lục có điều kiện khí hậu nắng nóng và có nhiều sa mạc đời sống kinh tế khó khăn và lạc hậu. Chính vì vậy, người dân Châu Phi cũng đã biết sử dụng cây thuốc bản địa từ rất lâu đời để tự chữa bệnh cho mình và cộng đồng. Qua những nghiên cứu mới đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa Châu Phi cũng hết sức phong phú và đa dạng.
Tại Kenya có 448 loài cây thuốc được người dân Mt. Nyiru Turkana dùng để điều trị những bệnh khác nhau [12]. Tiến hành nghiên cứu cây thuốc theo kinh nghiệm của người dân Zegie Peninsula, phía Tây Bắc Ethiopia đã tìm thấy 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng [6]. Cũng ở đất nước Ethiopia nhưng ở tộc người Bench, trong nghiên cứu cũng đã thống kê được 35 loài thực vật được sử dụng làm thuốc [8].
Đặc biệt tại Châu Phi các thầy lang có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng những bài thuốc cổ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyền từ thực vật.