Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú - Trường Cao đẳng Cần Thơ

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú tại trường cao đẳng Cần Thơ, phân tích phương pháp và kết quả thực tiễn.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú

Giáo dục kỹ năng sống (KNS) là quá trình trang bị cho sinh viên những năng lực cần thiết để thích ứng, ứng phó và phát triển trong môi trường xã hội phức tạp. Đối với sinh viên nội trú tại Trường Cao đẳng Cần Thơ, việc giáo dục KNS đặc biệt quan trọng vì nhóm đối tượng này sống xa gia đình, chịu áp lực tâm lý lớn và phải tự quản lý cuộc sống hàng ngày. Theo nghiên cứu của Lê Thủy Tiên (2017), KNS bao gồm nhiều nhóm kỹ năng cốt lõi: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng ra quyết định. Sinh viên nội trú thường đối mặt với thách thức kép: vừa phải thích nghi với môi trường học tập mới, vừa phải xây dựng mối quan hệ xã hội trong ký túc xá. Giáo dục KNS giúp sinh viên phát triển toàn diện về nhân cách, nâng cao khả năng tự lập và chuẩn bị hành trang vững chắc cho cuộc sống sau tốt nghiệp. Chương trình đào tạo hiện nay cần tích hợp giáo dục KNS một cách hệ thống để đáp ứng yêu cầu phát triển con người toàn diện.

1.1. Khái niệm và bản chất của kỹ năng sống

Kỹ năng sống được định nghĩa là khả năng ứng xử tích cực, thích nghi hiệu quả trước những đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Bản chất của KNS là sự kết hợp giữa kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), KNS bao gồm năm nhóm kỹ năng chính: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp hiệu quả và kỹ năng xây dựng mối quan hệ liên cá nhân. Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam, KNS được hiểu là những năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân hành xử phù hợp, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.

1.2. Đặc điểm sinh viên nội trú trường cao đẳng

Sinh viên nội trú tại Trường Cao đẳng Cần Thơ có những đặc điểm riêng biệt cần được quan tâm. Phần lớn sinh viên đến từ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hoàn cảnh gia đình trung bình, nhiều em phải tự lập từ sớm. Môi trường sống tập thể trong ký túc xá tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức. Sinh viên phải học cách chia sẻ không gian, quản lý thời gian và xử lý xung đột với bạn cùng phòng. Ngoài ra, áp lực học tập, lo lắng về tương lai nghề nghiệp và nỗi nhớ gia đình là những yếu tố gây căng thẳng thường xuyên. Những đặc điểm này đòi hỏi chương trình giáo dục KNS phải phù hợp với thực tế đời sống sinh viên nội trú.

II. Phân tích thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Thực trạng giáo dục KNS cho sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Cần Thơ cho thấy nhiều vấn đề đáng quan ngại. Kết quả nghiên cứu từ luận văn của Lê Thủy Tiên (2017) chỉ ra rằng phần lớn sinh viên có mức độ KNS ở mức trung bình, đặc biệt yếu ở kỹ năng ứng phó với căng thẳng và kỹ năng quản lý cảm xúc. Nhiều sinh viên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của KNS trong cuộc sống. Chương trình đào tạo hiện hành chủ yếu tập trung vào kiến thức chuyên ngành, chưa có môn học riêng biệt về KNS. Hoạt động ngoại khóa về KNS còn mang tính hình thức, thiếu tính hệ thống và chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đội ngũ cán bộ quản lý ký túc xá chưa được đào tạo bài bản về tư vấn tâm lý và giáo dục KNS. Sinh viên nội trú thường xuyên đối mặt với các tình huống căng thẳng như mâu thuẫn với bạn cùng phòng, áp lực thi cử, khó khăn tài chính nhưng thiếu kỹ năng xử lý hiệu quả. Khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành KNS là rào cản lớn trong công tác giáo dục toàn diện.

2.1. Mức độ kỹ năng sống hiện tại của sinh viên nội trú

Nghiên cứu thực tế tại Trường Cao đẳng Cần Thơ cho thấy mức độ KNS của sinh viên nội trú có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm kỹ năng. Kỹ năng giao tiếp đạt mức khá, do sinh viên thường xuyên tương tác trong môi trường tập thể. Tuy nhiên, kỹ năng ứng phó với căng thẳng và kỹ năng ra quyết định còn ở mức thấp. Nhiều sinh viên phản ứng tiêu cực trước áp lực, có xu hướng thu mình hoặc tìm đến các hình thức giải trí không lành mạnh. Nữ sinh viên thường có kỹ năng quản lý cảm xúc tốt hơn nam sinh viên. Sinh viên năm cuối có mức KNS cao hơn sinh viên năm đầu do tích lũy kinh nghiệm sống.

2.2. Những vấn đề tồn tại trong công tác giáo dục kỹ năng sống

Công tác giáo dục KNS tại Trường Cao đẳng Cần Thơ đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại. Thứ nhất, thiếu chương trình giáo dục KNS chính khóa, các hoạt động chủ yếu dựa vào phong trào Đoàn, Hội. Thứ hai, nội dung giáo dục KNS chưa được xây dựng theo nhu cầu thực tế của sinh viên nội trú. Thứ ba, phương pháp giảng dạy nặng về lý thuyết, thiếu tình huống mô phỏng và thực hành. Thứ tư, đội ngũ thực hiện chưa có chuyên môn sâu về giáo dục KNS. Thứ năm, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động KNS còn hạn chế. Cuối cùng, thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả giáo dục KNS một cách khoa học và hệ thống.

III. Giải pháp giáo dục kỹ năng sống hiệu quả cho sinh viên nội trú

Để nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Cần Thơ, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên, xây dựng chương trình giáo dục KNS chính khóa với nội dung thiết thực, bao gồm các module: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý căng thẳng, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ra quyết định và kỹ năng giải quyết xung đột. Phương pháp giảng dạy cần đổi mới theo hướng lấy người học làm trung tâm, sử dụng đóng vai, thảo luận nhóm, tình huống mô phỏng và trò chơi trải nghiệm. Đội ngũ cán bộ quản lý ký túc xá cần được bồi dưỡng kỹ năng tư vấn tâm lý cơ bản. Nhà trường nên thành lập phòng tư vấn tâm học đường để hỗ trợ sinh viên kịp thời. Hoạt động ngoại khóa về KNS cần được tổ chức thường xuyên, đa dạng hình thức như câu lạc bộ kỹ năng, workshop, diễn đàn chia sẻ. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong giáo dục KNS đóng vai trò then chốt đảm bảo tính liên tục và toàn diện.

3.1. Xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống chính khóa

Chương trình giáo dục KNS chính khóa cần được xây dựng dựa trên phân tích nhu cầu thực tế của sinh viên nội trú. Cấu trúc chương trình bao gồm ba giai đoạn: nhận thức (hiểu về KNS), trải nghiệm (thực hành KNS) và ứng dụng (sử dụng KNS trong đời sống). Nội dung mỗi module cần gắn liền với các tình huống thực tế mà sinh viên nội trú thường gặp. Thời lượng khuyến nghị từ 30-45 tiết mỗi học kỳ, có thể tích hợp vào giờ sinh hoạt lớp hoặc tổ chức riêng biệt. Giáo trình cần biên soạn phù hợp với trình độ cao đẳng, có nhiều hình ảnh minh họa và bài tập tình huống. Chương trình cần được đánh giá, điều chỉnh hàng năm dựa trên phản hồi sinh viên.

3.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả

Phương pháp giảng dạy KNS cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức hoạt động trải nghiệm. Kỹ thuật đóng vai giúp sinh viên thực hành xử lý tình huống thực tế. Phương pháp dự án nhóm rèn luyện kỹ năng hợp tác và lãnh đạo. Thảo luận nhóm phát triển tư duy phản biện và kỹ năng lắng nghe. Trò chơi tập thể xây dựng tinh thần đoàn kết và kỹ năng làm việc nhóm. Đánh giá kết quả giáo dục KNS cần đa dạng hóa hình thức: đánh giá quá trình qua quan sát, đánh giá sản phẩm qua portfolio, đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá. Sử dụng phiếu khảo sát trước và sau chương trình để đo lường sự tiến bộ của sinh viên về mặt KNS.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Cần Thơ là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, có khả năng thích ứng cao với yêu cầu xã hội. Nghiên cứu từ luận văn của Lê Thủy Tiên (2017) đã khẳng định tầm quan trọng của KNS đối với sự phát triển toàn diện của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để nhà trường xây dựng chương trình giáo dục KNS phù hợp với đặc thù sinh viên nội trú. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu bao gồm: xây dựng giáo trình KNS cho trường cao đẳng, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý ký túc xá, tổ chức các hoạt động ngoại khóa về KNS và thiết lập hệ thống tư vấn tâm học đường. Mô hình giáo dục KNS tại Trường Cao đẳng Cần Thơ có thể được nhân rộng sang các cơ sở giáo dục khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Phát triển KNS không chỉ giúp sinh viên học tập tốt hơn mà còn chuẩn bị cho các em hành trang vững bước vào đời.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Về mặt lý luận, nghiên cứu đóng góp vào hệ thống tri thức về giáo dục KNS trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung và phương pháp giáo dục KNS cho đối tượng sinh viên nội trú. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu về mức độ KNS của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Cần Thơ. Từ đó, nhà trường có căn cứ khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng chương trình giáo dục KNS. Mô hình đề xuất có tính ứng dụng cao, dễ triển khai và phù hợp với điều kiện thực tế của các trường cao đẳng trong khu vực.

4.2. Hướng phát triển và kiến nghị cho tương lai

Để giáo dục KNS đạt hiệu quả bền vững, cần thực hiện các kiến nghị sau. Thứ nhất, đưa giáo dục KNS thành môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo cao đẳng. Thứ hai, xây dựng đội ngũ giảng viên KNS chuyên trách, được đào tạo bài bản. Thứ ba, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục KNS tại ký túc xá. Thứ tư, tăng cường hợp tác với tổ chức xã hội, chuyên gia tâm lý để hỗ trợ sinh viên. Thứ năm, xây dựng hệ thống đánh giá KNS chuẩn hóa. Thứ sáu, nghiên cứu áp dụng công nghệ số trong giáo dục KNS như ứng dụng quản lý cảm xúc, diễn đàn trực tuyến chia sẻ kinh nghiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ở thế giới Chương trình Giá trị sống lần đầu tiên được tổ chức Liên hiệp quốc đưa ra bàn luận vào năm 1995. Khi đó, 186 nước là thành viên của Liên hiệp quốc đã chọn ra 12 giá trị cốt lõi nhất mang tính chung toàn cầu.

Mười hai giá trị sống phổ quát này chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần mà không đề cập đến những giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khỏe,. Chương trình này đã được triển khai ở rất nhiều nước khác nhau trên thế giới với mục tiêu chung là nhằm kêu gọi chia sẻ các giá trị vì một thế giới tươi đẹp hơn. Các giá trị cốt lõi này đều nằm trong mỗi con người bất kể sự khác nhau về quốc tịch, màu da hay văn hóa [17]. Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên hiệp quốc như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên.

“Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt rất nhiều và đòi hỏi cao hơn những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” [16]. Diễn đàn thế giới về giáo dục mọi người họp tại Senegan (2000). Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS 6 của người học.

Như vậy, học kỹ năng sống trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNS của người học [6]. Năm 1996 Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ XXI của Đại hội đồng giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) do Accque Delor làm Chủ tịch đã đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại. Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn”, đồng thời đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỷ XXI dựa trên 4 trụ cột: Học để biết (Learning to know); Học để làm (Learning to do); Học để cùng chung sống (Learning to live together); Học để tự khẳng định mình (Learning to be). Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận KNS dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực tiễn (làm việc), kỹ năng xã hội và kỹ năng cá nhân [17].

Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [24].

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm [24]. 7 Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.

Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ bản trong khi trong giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc.

Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS hoàn hảo [24]. Nghiên cứu ở trong nước Lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng những thách thức của thiên tai,… đã được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ. Trong hệ thống giáo dục thì quan điểm học để làm người, nghĩa là để biết ứng xử với đời đã được coi như một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục. Cho nên giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học có khả năng gia nhập cuộc sống xã hội.

Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi tên là giáo dục KNS vì xã hội lúc đó chưa chứa đựng những vấn đề mang tính thách thức, nguy cơ và rủi ro như trong xã hội ngày nay. Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF ở nước ta vào những năm 1996: “Chương trình giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”. Từ đó cho đến nay khái niệm “Kỹ năng sống” đã được đề cập trong nhiều chương trình giáo dục khác 8 nhau cho học sinh trong ngành giáo dục ở cac bậc học dành cho mọi lứa tuổi từ mầm non đến người lớn, từ giáo dục chính quy đến giáo dục thường xuyên, từ giáo dục nhà trường đến giáo dục xã hội và ở gia đình với nhiều nội dung đa dạng khác nhau. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu,.

nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có các ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tổ chức từ 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS và trách nhiệm phải giáo dục KNS cho người học [6].

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa ra quan niệm "KNS là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn khỏa mạnh và hiệu quả. Theo họ có những kỹ năng sống cơ bản như: kỹ năng ra quyết định; kỹ năng từ chối; kỹ năng thương thuyết, đám phán; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng trình bày; kỹ năng nhận biết;.Phụ nữ cần phải vận dụng những KNS trên để chống bạo lực trong gia đình, để xóa đói giảm nghèo,. Hợp phần Quản lý giáo dục, Tổ chức Hợp tác phát triển và hỗ trợ kỹ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB Việt Nam) đã tổ chức hội thảo và xây dựng chương trình, tài liệu tập huấn năm 2011 với chủ đề: Hiệu trưởng trường trung học cơ sở với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý. BGD&ĐT cũng đã phối hợp với VVOB Việt Nam triển khai tổ chức biên tập, xây dựng tài liệu tập huấn: Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý, dựa trên cơ sở phát triển cuốn tài liệu tập huấn hiệu trưởng trường trung học cơ sở do VVOB biên soạn năm 2011 [17].

Luận án tiến sĩ của Phan Thanh Vân năm 2010 "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp". Tác giả tập trung khảo sát thực trạng giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông 9 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Qua đó đề xuất các biện pháp giáo dục KNS: Tích hợp mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với nội dung, hoạt động thực hiện chủ đề các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT; Sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động.[25] Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hoài Phong năm 2016 đã tập trung nghiên cứu về thực trạng giáo dục KNS cho học sinh trường trung cấp nghề Hậu Giang, tỉnh Hậu Giang với 9 kỹ năng cơ bản: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng phó căng thẳng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng xác định mục tiêu và kỹ năng tự bảo vệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ