Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ trước đến nay đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài: "Phát triển sản phẩm tín dụng tại ngân hàng thương mại". Tuy nhiên, ở mỗi ngân hàng khác nhau thì tình hình hoạt động tín dụng và công tác phòng ngừa, quản lý rủi ro tín dụng cũng khác nhau. Trên thực tế, ở mỗi thời điểm khác nhau về sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tùy vào địa bàn hoạt động, điều kiện môi trường kinh doanh, các yếu tố văn hóa xã hội,.
nên mỗi ngân hàng sẽ có một biện pháp khác nhau. Do đó vấn đề đặt ra cho bản thân mỗi ngân hàng cần có những biện pháp và chiến lược hoạt động riêng. Chình vì lẽ đó, mặc dù đã có nhiều tác giả đã từng làm về đề tài này, nhưng người viết vẫn lựa chọn thực hiện đề tài này nhằm tìm kiếm thêm những sự thay đổi mới để có thể áp dụng thực tế nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP công thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn. Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết có sử dụng và tham khảo một số đề tài của những tác giả sau: Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đào Thị Chinh: "Quản trị tài sản có tại ngân hàng công thương Việt Nam", Học Viện Ngân hàng, 2009.
Luận văn đã đề cập đến quản trị trong hoạt động ngân hàng nhưng là quản trị chung tài sản có. Sản phẩm tín dụng với góc độ là một loại tài sản có được luận án đề cập ở mức độ nhất định [4]. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Huyền Diệu “Luận cứu khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” bảo vệ tại Học Viện Ngân Hàng, tháng 9 năm 2010. Nội dung đề tài này chủ yếu xem xét rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng [6].
c 6 Giáo trình “Tín dụng ngân hàng” do tác giả Nguyễn Đăng Dờn chủ biên (Nhà xuất bản Thống kê 2004) hay cuốn “Tiền tệ tín dụng và ngân hàng” của tác giả Lê Văn Tư (Nhà xuất bản Thống kê 1997) các tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về hoạt động tín dụng của NHTM, làm rõ bản chất của tín dụng, đặc điểm của tín dụng, các loại hình tín dụng, quy trình và nguyên tắc cho vay, tác giả cũng phân loại tín dụng theo tiêu thức thời gian thành 2 nhóm: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung hạn, dài hạn [7]. Ngoài ra còn có thể phân loại theo hình thức cho vay hoặc đối tượng vay vốn,… Cuốn sách “Giải pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động tín dụng” của 2 tác giả Hoàng Văn Hoa và Tôn Thị Nga đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ - Đại Học Đà Nẵng số 4 (năm 2009), đã khái quát tình hình chung về hoạt động tín dụng của NHTM, chỉ ra những điểm còn hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Tuy nhiên bài viết không hướng đến một đối tượng cụ thể mà là những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng nói chung. Vì vậy rất cần có những nghiên cứu để đưa ra giải pháp phù hợp cho từng đối tượng tín dụng [11].
Như vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngân hàng ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Những kết quả nghiên cứu đó là những luận cứ quan trọng để tác giả luận văn tiếp thu có chọn lọc cho công trình nghiên cứu của mình. Do đó rất cần phải có công trình nghiên cứu sâu về tín dụng và sản phẩm tín dụng đối với ngân hàng nên việc chọn đề tài "Phát triển sản phẩm tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn" là cần thiết, có ý nghĩa khoa học. Sản phẩm tín dụng và phát triển sản phẩm tín dụng của ngân hàng 1.
Khái niệm và đặc điểm sản phẩm tín dụng của ngân hàng 1. Khái niệm sản phẩm tín dụng của ngân hàng Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nền kinh tế. Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ c 7 hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Để đưa ra được một định nghĩa về ngân hàng thương mại, người ta thường phải dựa vào tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại. Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [6]. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là: việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
Thông thường khi nhắc đến các sản phẩm Ngân hàng thương mại người ta thường nghĩ tới những sản phẩm tiền gửi, cho vay và thanh toán. Cùng với quá trình hình thành và phát triển hệ thống Ngân hàng các sản phẩm ngân hàng ngày càng phong phú, đa dạng với nhiều tiện ích để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. c 8 Sản phẩm của Ngân hàng được hiểu là toàn bộ những hoạt động mà Ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Trong các sản phẩm mà Ngân hàng thương mại cung cấp, sản phẩm dịch vụ và sản phẩm tín dụng là loại sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất.
*Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Dịch vụ là hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng và tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi và vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Ngành ngân hàng là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nên được xếp vào ngành dịch vụ. Xét trên giác độ Marketing: Dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhận được của khách hàng, tổ chức tài chính.
Theo tác giả Võ Kim Thanh trong bài báo “Đa dạng hoá nghiệp vụ dịch vụ ngân hàng- xu thế phát triển tất yếu của các NHTM Việt Nam” (Tạp chí ngân hàng số 3/2001) viết: “Dịch vụ ngân hàng là những dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính, do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình” [19]. Còn theo tác giả Đỗ Xuân Hồng trong bài báo “Dịch vụ ngân hàng trong thời đại công nghệ thông tin và hội nhập kinh tế” (tạp chí ngân hàng số 8/03) viết: “Dịch vụ ngân hàng là các phương tiện, công cụ vô hình dùng để chuyển tải các loại hình hoạt động kinh doanh ngân hàng bằng các phương tiện công cụ hữu hình (các loại máy móc, thiết bị, công nghệ) [3]. Từ đó ta có thể hiểu, Sản phẩm dịch vụ cuả ngân hàng là những sản phẩm dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình dựa trên sự tiến bộ và phát triển của khoa học công nghệ thông tin hiện đại, có sự đa dạng hoá cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. c 9 *Sản phẩm tín dụng của ngân hàng Có nhiều quan điểm khác nhau về sản phẩm tín dụng ngân hàng.
Theo quan điểm của Mác: Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo quan điểm này thì có thể hiểu: Sản phẩm tín dụng của ngân hàng là một trong những sản phẩm Ngân hàng, là tập hợp các đặc điểm, tính năng công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng về tiền gửi và tiền vay trên thị trường tài chính. Với cách hiểu này thì sản phẩm tín dụng của ngân hàng rất đa dạng, phong phú bao gồm cả sản phẩm huy động vốn, cho vay và bảo lãnh… Đối với sản phẩm huy động vốn, khách hàng đứng ở khía cạnh người cho vay, khách hàng tín nhiệm ngân hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng quản lý và sử dụng vốn của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho khách hàng. Đối với sản phẩm cho vay, ngân hàng đứng ở vị trí người cung ứng vốn, ngân hàng cho khách hàng vay vốn để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt về vốn của khách hàng.
Còn đối với sản phẩm bảo lãnh, ngân hàng đứng ra cam kết với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến hạn bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng, bảo lãnh của ngân hàng là bảo lãnh bằng năng lực chi trả. Sản phẩm tín dụng của ngân hàng được cấu thành bởi ba cấp độ: phần sản phẩm cốt lõi, phần sản phẩm hữu hình và phần sản phẩm bổ sung. - Phần sản phẩm cốt lõi: là phần có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của khách hàng, là giá trị cốt yếu mà Ngân hàng tạo ra cho khách hàng. - Phần sản phẩm hữu hình: là sự biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như tên gọi của sản phẩm và các điều kiện để được cấp các sản phẩm đó.