CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NƠI LÀM VIỆC 1. Động lực và tạo động lực làm việc cho người lao độngtại nơi làm việc. Định hướng nghiên cứu của luận văn Các công trình nghiên cứu khoa học và luận văn trên đã phân tích đánh giá được thực trạng về công tác tạo động lực làm việc cho người lao động trong từng doanh nghiệp với nhiều lĩnh vực khác nhau: Ngân hàng, vận tải và dịch vụ xăng dầu, hàng không, vật liệu xây dựng, bảo hiểm… Dù ở bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào thì tạo động lực làm việc cho người lao động luôn là yếu tố cực kỳ quan trọng và được doanh nghiệp chú trọng đầu tư và phát triển.
Các doanh nghiệp có thể tạo động lực ở cấp quản lý, nhân viên, hoặc đối với nguổn nhân lực chất lượng cao, mỗi cấp độ có một công cụ tạo động lực khác nhau nhưng nhìn chung tạo động lực làm việc cho người lao động là xây dựng nền tảng nhân lực vững chắc cho doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của mình, công tác tạo động lực làm việc cho người lao động đã trở thành một yêu cầu cấp bách trước sức cạnh tranh khốc liệt từ đối thủ cạnh tranh, từ thực tế chảy máu chất xám của doanh nghiệp trong những năm nay gần đây. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều đi theo hướng truyền thống với việc cơ sở lý thuyết phân tích các nhân tố thuộc về bản thân người lao động, nhân tố thuộc về doanh nghiệp và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp từ đó phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp tạo động lực cho người lao động. Hơn nữa, một số luận văn còn hạn chế ở phương pháp nghiên cứu (mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu dữ liệu sơ cấp mà chưa kết hợp bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp) từ đó các giải pháp đưa ra còn hạn chế và thiếu tính ứng dụng trong thực tế.
Qua phân tích, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tạo động lực lao động, em đã kế thừa những cơ sở lý luận hay và loại bỏ những điểm hạn chế của mỗi công trình nghiên cứu. Do vậy luận văn “Tạo động lực làm việc cho người lao động tại ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Quảng Bình” sẽ kế thừa những ưu điểm 13 của các công trình đã nghiên cứu về tạo động lực và từ đó đưa ra các giải pháp góp phần tạo động lực làm việc cho người lao động tại ngân hàng. Khái niệmđộng lực làm việc và tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Khái niệm động lực làm việc của người lao động “Động cơ là sinh lực thúc đẩy, định hướng và duy trì hành vi của con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.“ Động cơ khó xác định vì nó luôn biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có nhu cầu và động cơ khác nhau, khó có thể biết chính xác nhu cầu nào cụ thể ở từng thời điểm.
Nó thường được che dấu bản chất thực vì nhiều lý do khác nhau như: tâm lý, quan điểm xã hội… Động cơ rất phong phú đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau. “Động lực là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và thoả mãn được nhu cầu của bản thân người lao động. Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực là tất cả những gì thôi thúc con người, thúc đẩy con người hăng hái làm việc.” Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nói lên được bản chất của động lực lao động.Nguyễn Ngọc Quân và Ths.Nguyễn Vân Điềm (2007)định nghĩa “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động đế tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của doanh nghiệp”.Bùi Anh Tuấn và TS.Phạm Thúy Hương năm 2009 “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, cũng như của bản thân người lao động. 14 Như vậy, có thể nói động lực làm việc của người lao động là những nhân tố thôi thúc con người làm việc và giúp cho họ làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời cũng là để thỏa mãn mong muốn của bản thân người lao động. Nó không chỉ chịu ảnh hưởng bởi bản thân người lao động mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi những hoạt động quản lý nhân sự trong một doanh nghiệp. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích.
Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là tại sao người lao động lại làm việc. Để trả lời được cho câu hỏi này họ phải tìm hiểu về động lực làm việc của người lao động và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc. Vậy vấn đề quan trọng của động lực làm việc đó là mục tiêu của người lao động, nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của họ, tạo cho họ sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết nhu cầu, lợi ích và động cơ của họ.
Vai trò của động lực làm việc của ngườilao động Đối với người lao động: Động lực làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của người lao động. Khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ say mê với công việc và nghề nghiệp của mình, do đó họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say hơn và có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được thực hiện với hiệu quả cao. Động lực làm việc không chỉ giúp người lao động kết hợp với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó về mặt tinh thần trong một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ vì mục tiêu chung. Nếu không có động lực làm việc, người lao động sẽ làm việc theo hình thức đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của doanh nghiệp và mọi người xung quanh, hiệu quả công việc chắc chắn sẽ bị giảm sút.
15 Đối với doanh nghiệp: Trong một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là bộ phận quan trọng không thể thiếu nên động lực làm việc của người lao động đóng vai trò quyết định sức mạnh của doanh nghiệp. Động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong doanh nghiệp: người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy, họ luôn thể hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó giúp doanh nghiệp có thêm những ý tưởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thích ứng được với những thay đổi và chủ động tạo ra những thay đổi. Động lực làm việc giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của doanh nghiệp: khi người lao động có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hoặc tỉ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn.
Người có động lực làm việc ít bị bệnh trầm cảm và thường có sức khoẻ về thể chất và tinh thần tốt. Người có động lực làm việc cao sẽ gắn kết với doanh nghiệp, sáng tạo hơn và phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn, do đó họ sẽ đóng góp vào thành công của doanh nghiệp. Chính vì vậy, những người lao động có động lực làm việc được coi là tài sản quý giá nhất của bất cứ doanh nghiệp nào.” Ngoài ra, động lực làm việc trong doanh nghiệp cũng giúp xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp. Người lao động của doanh nghiệp sẵn sàng thích ứng với thay đổi và không phản ứng tiêu cực với những thay đổi.
Đây chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hành chính nhà nước. Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động Ngày nay bất kì một doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ, muốn tồn tại và phát triển thì người lao động phải được quan tâm và chú trọng hàng đầu. Việc bắt buộc, trừng phạt hay quát mắng người lao động để họ thực hiện công việc không còn hiệu quả nữa và có thể làm người lao động bất mãn từ đó gây ra sự ức chế trong lao động và làm cho họ có tư tưởng chống đối, bỏ việc. Vì vậy mà ưu tiên hàng đầu của các 16 nhà quản trị là khám phá nhu cầu của người lao động từ đó tìm ra các phương pháp tạo động lực thỏa mãn nhu cầu của họ.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền định nghĩa “Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp QT nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho người lao động[2, tr 201].
“Tạo động lực còn là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của doanh nghiệp, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Các biện pháp đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của doanh nghiệp được thể hiện ở việc doanh nghiệp đó đối với người lao động như thế nào” [5, tr 153]. “Như vậy, tạo động lực có thể hiểu là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý, tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho doanh nghiệp, doanh nghiệp. Vấn đề quan trọng của động lực là mục tiêu.