Chương I: MẠNG CÁP QUANG – NỀN TẢNG CHO MẠNG THẾ HỆ MỚI Mạng cáp quang hoạt động dựa trên hiện tượng phản xạ toàn phần trong sợi quang. Nó nhanh hơn mạng truyền thống vì dữ liệu được truyền qua sợi quang dưới dạng các photon, còn trong mạng truyền thống dữ liệu được truyền qua cáp đồng dưới dạng các electron. Photon có trọng lượng nhỏ hơn electron, và hơn nữa giữa các photon không có sự tương tác như giữa các electron. Mặt khác, ánh sáng có tần số cao hơn nên bước sóng cũng ngắn hơn, do đó với cùng chiều dài, cáp quang truyền được nhiều thông tin hơn cáp đồng.
Cùng với những đặc tính ưu việt như: cung cấp băng thông cực lớn, chi phí thấp, tỉ lệ lỗi bít cực thấp, độ nhiễu tín hiệu rất nhỏ, yêu cầu không gian nhỏ, khả năng bảo mật cao…, hiện nay mạng cáp quang đang là công nghệ hứa hẹn cho tương lai và được sử dụng rộng rãi trong mạng truyền thông backbone (mạng truyền thông đường trục) [1].1 Công nghệ WDM Theo lý thuyết, sợi quang có băng thông cực lớn (khoảng 25THz), gấp khoảng 1,000 lần so với băng thông tổng cộng của sóng radio trên các vệ tinh trái đất. Tuy nhiên do tốc độ truy cập mạng của người dùng bị giới hạn bởi tốc độ điện ở các nút mạng (vài Gb/s). Sự không tương đồng về băng thông giữa quang và điện này làm cho việc khai thác hết băng thông khổng lồ của một sợi cáp quang mà chỉ dùng một kênh truyền sóng là rất khó khăn. Rất may cho người sử dụng là công nghệ WDM (wavelength division multiplexing) cùng với EDFA (erbium doped fiber amplifer) ra đời đã giải quyết vấn đề này.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com WDM là phương thức ghép kênh quang theo bước sóng. Thông thường trong tuyến thông tin quang điểm nối điểm, mỗi một sợi quang cho một tia laser với một bước sóng ánh sáng truyền qua, tại đầu thu, bộ tách sóng quang tương ứng sẽ nhận tín hiệu từ sợi này. Mỗi một sóng laser mang một số tín hiệu điện với một phổ nhất định. Từ những năm 1980, công nghệ sợi quang có nhiều tiến bộ nên phương thức ghép kênh quang theo bước sóng được ứng dụng trong mạng viễn thông đường trục và quốc tế.
Ở đây, WDM cho phép ta tăng dung lượng kênh mà không cần tăng tốc độ bit của đường truyền và cũng không dùng thêm sợi dẫn quang. Nó cho phép khai thác một cách đơn giản và kinh tế lượng thông tin vào một sợi quang đơn mode (sợi quang chỉ cho một chùm laser truyền qua lõi của nó, còn sợi quang đa chế độ thì cho nhiều chùm laser truyền qua lõi của nó dưới các góc khác nhau) trên cự ly dài và tăng độ mềm dẻo của cấu trúc phân phối. Những đường truyền dẫn thử nghiệm đã đạt được tốc độ lưu lượng 160Gbit/s phân phối trên 8 kênh ghép theo bước sóng. Hơn nữa, ghép theo WDM không chỉ giảm bớt ảnh hưởng của tán sắc mà còn chống được tổn hao do phân cực.
Các hệ thống thông tin quang hiện đại có sử dụng bộ khuếch đại quang để ghép nhiều kênh theo WDM. Nếu với lưu lượng là 2,5Gbit/s, ghép theo WDM từ 8 đến 16 luồng thì ta thực hiện được một đường thông tin quang với lưu lượng là 20Gbit/s đến 40Gbit/s trên một sợi đơn mode mà vẫn dùng lại được các thiết bị ghép kênh và phân kênh hiện có. Nói một cách khác, WDM cho phép tăng tích số lưu lượng nhân với cự ly trên một sợi quang.1 minh họa cấu hình của hệ thống WDM. Trong đó các tín hiệu quang từ các nguồn có các bước sóng khác nhau W0, W1, W2 và W3 được ghép lại nhờ bộ ghép kênh MUX.
Bộ ghép MUX phải đảm bảo ít suy hao và không cho sự xuyên nhiễu giữa các luồng. Các luồng tín hiệu sau khi ghép được truyền trên một sợi quang tới phía thu. Trên một tuyến đường có cự ly dài thì 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chùm sóng quang được khuếch đại nhờ các bộ khuếch đại. Bộ chia luồng DEM tại đầu thu sẽ tách các sóng quang W0, W1, W2 và W3 và khôi phục lại tín hiệu điện tương ứng với từng bước sóng như phía phát.
W0 W0 Optical Optical Multiplexer Demultiplexer W1 W1 W0 W1 W2 W3 MUX Bộ khuếch đại DEM W2 Optical Fiber W2 W3 W3 Hình 1.1: Wavelength Division Multiplexing Kĩ thuật EDFA được sử dụng để điều chỉnh, khuếch đại đồng thời tất cả các bước sóng mà không phải quan tâm đến tỉ lệ bit của chúng. Trước khi kĩ thuật này ra đời, sự suy hao trong sợi quang sau khoảng 10km được bù đắp lại bởi một máy tái sinh. Khi đó các tín hiệu quang phải được chuyển đổi sang tín hiệu điện để xử lý rồi lại phải chuyển đổi ngược lại. Khó khăn chủ yếu là máy tái sinh chỉ làm việc được với một tỉ lệ bit cố định.
Bộ khuếch đại EDFA bao gồm một vài đồng hồ đo sợi quang và một máy lade dùng để khuếch đại các tín hiệu quang. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Kiến trúc mạng quang Một mạng cáp quang bao gồm các nút OCXs được kết nối với nhau bởi những liên kết điểm tới điểm theo một topo bất kỳ như hình 1. Mỗi nút cuối (liên kết với người dùng) kết nối tới một nút định tuyến thông qua một liên kết quang. Tập hợp những nút cuối gắn với một nút định tuyến tạo nên một nút mạng.
Mỗi nút có các đầu truyền và các đầu nhận tương ứng để gửi dữ liệu vào trong mạng và nhận dữ liệu từ mạng về. B C 1 OCX OCX 1 2 1 A OCX OCX F 1 2 OCX OCX 2 D E Hình 1.2: Kiến trúc mạng cáp quang Các thông điệp được gửi từ nút này đến nút khác thông qua một lightpath. Một lightpath là một đường dẫn quang được thiết lập giữa hai nút và ấn định cho các bước sóng trên toàn bộ đường dẫn quang đó. Trong trường hợp mạng không có sự biến đổi các bước sóng (wavelength conversion) thì các bước sóng trên toàn bộ các liên kết của đường dẫn được yêu cầu là giống nhau.
Điều này được biết đến như là ràng buộc về sự liên tục bước sóng (wavelength continuty constraint). Một điều hiển nhiên là hai lightpaths không được gán cùng một bước sóng trên cùng một liên kết (link). 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các vấn đề trong mạng cáp quang I.1 Các kiểu truyền thông trên mạng Cũng giống như trong các mạng truyền thống, các yêu cầu truyền thông giữa các nút trong mạng quang gồm các kiểu sau: Unicast: Truyền thông loại này cho phép các gói tin được gửi từ một nút nguồn đến một nút đích. Một kết nối cho yêu cầu unicast cho phép thiết bị gửi dữ liệu đến một nơi nhận duy nhất Broadcast: Các gói tin được gửi từ một nút (nút nguồn) đến tất cả các nút còn lại trong mạng.3: Broadcast Multicast: Các gói được gửi từ một nút nguồn s đến một nhóm các nút đích D.4: Multicast Rõ ràng, định tuyến multicast là trường hợp tổng quát nhất: |D| = 1 sẽ tương ứng với unicast, |D| = n-1 (n là số nút mạng) tương ứng với broadcast.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các yêu cầu truyền thông trên mạng Yêu cầu truyền thông trên mạng có hai dạng: Dạng tĩnh (static): Còn gọi là off-line, trong đó một tập các yêu cầu kết nối đã được biết trước và mục tiêu là thiết lập các kết nối để thỏa mãn yêu cầu này với chi phí thấp nhất. Vì bài toán là off-line, nên các thuật toán cho dạng này không quan tâm nhiều về thời gian thực hiện mà quan tâm nhiều đến độ chính xác. Dạng động (dynamic): Còn gọi là on-line, trong đó các yêu cầu kết nối đến và rời khỏi mạng một cách ngẫu nhiên nào đó. Do các yêu cầu là on-line, nên các thuật toán cho dạng này khác với dạng tĩnh là yêu cầu về thời gian thực hiện nhanh.3 Định tuyến và gán bước sóng Trong mạng cáp quang, một kết nối unicast (multicast) được thực hiện bởi một lightpath (light-forest).
Thuật toán để chọn tuyến (path hoặc tree) và gán bước sóng (wavelength) cho việc thiết lập các lightpath được gọi là thuật toán định tuyến và ấn định bước sóng RWA (MRWA). Bài toán RWA (MRWA) là bài toán NP đầy đủ nên thường được chia thành hai bài toán nhỏ và giải độc lập: định tuyến và gán bước sóng. Định tuyến Các chiến lược định tuyến thường được phân thành ba loại: định tuyến cố định, định tuyến thay thế cố định, định tuyến thích nghi. Phương pháp định tuyến cố định ( fixed routing) Với chiến lược này, mỗi một yêu cầu kết nối unicast (mutlicast) một đường (một cây) cố định được dùng để thiết lập lightpath (light-tree)[1] cho chúng.
Có nghĩa là, khi yêu cầu kết nối đến, chúng ta chỉ tìm các bước sóng trên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường hay cây này để thiết lập lightpath. Nếu tìm được bước sóng rỗi, kết nối được thiết lập (thiết lập được lightpath (light-tree)), ngược lại kết nối này bị block. Thông thường đường đi ngắn nhất giữa nút nguồn và đích (hoặc cây steiner-tree) được dùng làm đường (cây) cố định đó. Ưu điểm của chiến lược này là đơn giản, nhược điểm của nó là xác suất tắc nghẽn cao.
Ví dụ: Đường định tuyến cho kết nối unicast từ nút 0 đến nút 2 sẽ sử dụng đường đi ngắn nhất 0->1->2 như hình 1.5: Đường ngắn nhất cố định Đinh ̣ tuyế n luân phiên cố đinh ̣ (fixed alternate routing) Để khắc phục nhược điểm của chiến lược định tuyến cố định, người ta thường dùng chiến lược định tuyến luân phiên cố định. Trong định tuyến luân phiên cố định, với mỗi một kết nối chúng ta không sử dụng một đường (một cây) cố định như trong định tuyến cố định mà dùng nhiều đường (cây) cố định để thiết lập lightpath cho chúng. Có nghĩa là khi yêu cầu kết nối đến, chúng ta có thể tìm các bước sóng trên tất cả các đường (cây) này để thiết lập lightpath (light-tree). Thông thường k đường đi ngắn nhất giữa nút nguồn và đích (tính offline theo thuật toán kshostest paths) được dùng làm các đường cố định đó.
Ví dụ: Với chiến lược định tuyến thay thế và k = 2, yêu cầu kết nối từ nút 0 đến nút 2 có thể sử dụng hai đường 0->1->2 và 0->5->4-> 2 như hình 1. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.6: Mô tả tuyến kết nối chính( nét liền) và tuyến thay thế (nét đứt). Ưu điểm của chiến lược này là giảm được xác suất tắc nghẽn đáng kể so với chiến lược định tuyến cố định và cài đặt cũng khá đơn giản. Tuy nhiên, chiến lược này cũng chưa tốt bởi nó không quan tâm đến trạng thái hiện thời của mạng.