MỞ ĐẦU Bệnh do sán lá gan lớn (SLGL) rất phổ biến ở động vật nhai lại (trâu, bò…), do Fasciola hepatica và Fasciola gigantica gây ra. Ngƣời là vật chủ tình cờ của sán lá gan lớn khi ngƣời ăn rau sống hoặc uống nƣớc lã có nang ấu trùng của sán lá gan lớn còn sống. Ở ngƣời, sán lá gan lớn gây tổn thƣơng chủ yếu ở gan nhƣng cũng có thể gây tổn thƣơng ngoài gan khi sán lá gan lớn lạc vị trí ký sinh. Tại một số khu vực trên thế giới, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở ngƣời rất cao và nhiễm sán lá gan lớn đƣợc xem là vấn đề sức khỏe đƣợc cộng đồng đặc biệt quan tâm [53].
hepatica đƣợc coi là có nguồn gốc ở châu Âu, nhƣng cho đến nay loài này đã có mặt và phân bố rộng rãi trên thế giới. Hiện nay, loài sán này đã đƣợc tìm thấy ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dƣơng [37]. Ở châu Á, châu Phi nhiễm phối hợp cả 2 loài [37, 27]. Hai loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica có nhiều điểm giống và khác nhau.
Để phân biệt 2 loài này, ngƣời ta có thể sử dụng phƣơng pháp hình thái học [59] hoặc sinh học phân tử [1]. Dựa vào các đặc điểm hình thái nhƣ chiều dài, chiều rộng cơ thể, khoảng cách từ giác bụng đến cuối thân và tỷ lệ chiều dài/chiều rộng có thể cho phép xác định loài sán lá gan lớn [59]. Phƣơng pháp này đơn giản, dễ thực hiện, không cần những thiết bị phức tạp và có thể thực hiện ở hầu hết các phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng sán lá gan lớn có sự đa hình về hình thái, kích thƣớc.
Hình dạng của sán lá gan lớn thay đổi phụ thuộc vào vật chủ ký sinh, số lƣợng sán nhiễm và tình trạng dinh dƣỡng của vật chủ [9, 29]. Vì vậy, chỉ dựa vào hình thái rất khó có thể xác định SLGL là Fasciola hepatica hay Fasciola gigantica [9, 29]. Phƣơng pháp sinh học phân tử đã khắc phục đƣợc những hạn chế của phƣơng pháp hình thái. Các kỹ thuật sinh học phân tử cho phép xác định và phân biệt các loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica.
Một số kỹ thuật đã đƣợc sử dụng để giám định và phân biệt Fasciola hepatica và Fasciola gigantica là kỹ thuật đa hình của ADN nhân bản ngẫu nhiên (PCR- RADP), kỹ thuật đa hình chiều dài đoạn cắt giới hạn (PCR -RFLP) [35] và kỹ thuật phản ứng chuỗi trùng hợp cơ bản (PCR) kết hợp với so sánh giải trình tự gen thu đƣợc với ngân hàng gen [46]. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc xác định loài sán lá gan lớn là cơ sở để lựa chọn, thực hiện các nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm hiểu cơ chế bệnh sinh, nghiên cứu tạo ra các kít huyết thanh chẩn đoán, nghiên cứu thuốc điều trị, tình hình kháng thuốc… Qua đó góp phần quan trọng trong công tác phòng chống bệnh do sán lá gan lớn gây ra ở động vật và ở ngƣời phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, việc xác định loài sán lá gan lớn gây bệnh ở ngƣời và động vật đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu [5, 22]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở phân tích kích thƣớc chiều dài, chiều rộng và việc xác định loài chỉ ở một vài đặc điểm cụ thể nên các kết luận đƣa ra còn rất hạn chế.
Vì vậy, để có thêm những dữ liệu về hình thái và sinh học phân tử để góp phần xác định loài sán lá gan lớn nhằm góp phần phòng chống bệnh do sán lá gan lớn gây ra cho động vật và ngƣời tại Việt Nam hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng hình thái học và sinh học phân tử trong định loại sán lá gan lớn tại một số tỉnh miền Bắc – Việt Nam” nhằm các mục tiêu: Xác định đƣợc loài sán lá gan lớn bằng sử dụng chỉ thị hình thái học và chỉ thị phân tử ITS-2. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở ngƣời và động vật 1.
Bệnh sán lá gan lớn trên thế giới Bệnh SLGL là một trong những bệnh ký sinh trùng quan trọng ở động vật ăn cỏ và ngƣời. Tác nhân gây bệnh thuộc giống Fasciola, họ Fasciolidae. Loài sán lá này đƣợc ghi nhận gây bệnh ở ngƣời từ thời kỳ đồ đá đến thời kỳ đồ sắt La Mã, khoảng từ 3.500 năm trƣớc công nguyên đến 200 năm sau công nguyên, bằng sự phát hiện ra trứng SLGL trong các xác ƣớp Ai Cập thời các Pharaon. Năm 1379, Jehan de Brie là ngƣời đầu tiên liên hệ nguồn gốc của bệnh trên cừu với một loài sán hay gặp ở cừu, sau đó đƣợc gọi là sán lá gan cừu.
Năm 1758, Carl von Linaeus đã đặt tên cho loài sán lá gan cừu này là Fasciola hepatica [63]. Vòng đời và tính chất gây bệnh cho ngƣời của F. hepatica đƣợc làm sáng tỏ vào cuối thế kỷ 19. Năm 1856, Cobbold phát hiện ra F.
gigantica tại Nhật Bản. gigantica ít gây bệnh cho ngƣời hơn so với F. hepatica, nhƣng vòng đời, sự truyền bệnh, hình thái học, diễn biến lâm sàng, sự truyền nhiễm và điều trị của F. gigantica tƣơng tự nhƣ F.
Cho tới nay, một số loài thuộc giống Fasciola đã đƣợc mô tả nhƣng chỉ 2 loài F. gigantica đƣợc xác định là gây bệnh cho cả ngƣời và động vật [52]. Những nghiên cứu trong vài năm gần đây cho thấy bệnh sán lá gan lớn ở ngƣời là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới [29]. Bệnh phân bố chủ yếu ở các quốc gia có tỷ lệ chăn nuôi cừu và gia súc (động vật nhai lại) cao.
Bệnh sán lá gan ở ngƣời đƣợc thông báo ở một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi và châu Đại dƣơng. Tỷ lệ các trƣờng hợp mắc bệnh ở ngƣời ngày càng tăng tại 51 quốc gia của 5 lục địa [55]. Một phân tích toàn cầu cho thấy bệnh do SLGL chỉ xuất hiện ở những vùng có mối liên hệ giữa bệnh ở động vật với bệnh ở ngƣời và vật chủ trung gian có các điều kiện thuận lợi để phát triển. Một số nghiên cứu cho rằng, sự lƣu hành bệnh do SLGL ở ngƣời không liên quan với bệnh do SLGL ở thú.
Ví dụ, ở Nam Mỹ, những vùng lƣu hành cao (hyperendemic) và lƣu hành vừa (mesoendemic) đƣợc tìm thấy ở Bolivia và Peru, 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nơi vấn đề bệnh SLGL ở động vật ít quan trọng, trong khi ở các quốc gia nhƣ Uruguay, Argentina và Chile, bệnh sán lá gan chỉ lẻ tẻ hoặc mức độ vừa [55]. Ở châu Á, bệnh sán lá gan ở vật nuôi tập trung ở một số nƣớc nhƣ: Thái Lan, I rắc, I ran, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Nê pan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Phi líp pin. Trong đó bệnh SLGL ở ngƣời đƣợc thông báo nhiều nhất ở I ran, đặc biệt ở tỉnh Gilan, khu vực gần biển Caspian. Theo một thống kê, ở I ran đã có trên 10.000 trƣờng hợp bệnh SLGL ở ngƣời xuất hiện rải rác.
Một số trƣờng hợp bệnh SLGL ở ngƣời cũng đã đƣợc thông báo tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Thái Lan [55], [61]. Hậu quả SLGL gây ra cho ngƣời rất khác nhau. Khi nang ấu trùng xuyên qua thành ruột hoặc tá tràng gây xuất huyết và viêm, giai đoạn này các tổn thƣơng có thể gây triệu chứng không rõ rệt. Quá trình ký sinh ở gan, SLGL gây tiêu hủy tổ chức gan lan rộng, gây chảy máu và phản ứng viêm, phản ứng miễn dịch.
Sán có thể vào đƣờng mật và ở đây chúng có thể sống vài năm gây viêm nhiễm dẫn tới xơ hóa, dày lên và giãn rộng, có thể chảy máu đƣờng mật [3, 29]. Đặc biệt SLGL có quá trình di chuyển lạc vị trí nên có thể gây bệnh ở các cơ quan ngoài gan. Ở ngƣời, vị trí tổn thƣơng ngoài gan thƣờng gặp nhất là đƣờng tiêu hóa [29]. Các vị trí lạc chỗ khác đƣợc thông báo nhƣ: mô dƣới da, tim, mạch máu, phổi và khoang màng phổi, não, hốc mắt, thành bụng, ruột thừa, tuyến tụy, lách, u vùng háng, cổ… [29].
Ở các vị trí lạc chỗ, SLGL không bao giờ phát triển thành con trƣởng thành [29]. Các biểu hiện thông thƣờng của tổn thƣơng ngoài gan là do dấu vết di cƣ gây tổn thƣơng mô dẫn tới viêm và xơ hóa. Ở các vị trí ký sinh ngoài gan, SLGL có thể bị vôi hóa hoặc tạo thành dạng u hạt. Nhìn chung bệnh ngoài gan do SLGL hiếm gặp và khó chẩn đoán.
Bệnh thƣờng đƣợc chẩn đoán tình cờ (trong khi phẫu thuật) hoặc khi SLGL có lối thoát để bò ra [29]. Bệnh sán lá gan lớn tại Việt Nam Bệnh sán lá gan lớn ở trâu/bò Tại Việt Nam, trƣờng hợp đầu tiên của bệnh sán lá gan ở bò đã đƣợc báo cáo vào năm 1938 bởi Houdemer. đã đƣợc tìm thấy trong một phạm vi rộng lớn gồm trâu, bò, dê, hƣơu, nai. Việc xác định bệnh SLGL ở động vật thông qua xác định hình thể con sán trƣởng thành, kiểm tra tại lò mổ và phân tích huyết 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thanh học.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở các loài động vật khác nhau trong khoảng 2-60%. Bằng chẩn đoán huyết thanh học, tỷ lệ nhiễm ở gia súc đã đƣợc tìm thấy là từ 50-89% [15]. Tuy nhiên, tỷ lệ này chịu ảnh hƣởng của tuổi động vật, các nghiên cứu về dịch tễ học của tuyến trùng và nhiễm trùng sán lá ở bò vàng và bò sữa báo cáo tỷ lệ thấp, tƣơng ứng là 22% và 28% [34]. Nghiên cứu tại lò mổ trâu bò tại các tỉnh trong cả nƣớc, các tác giả công bố tỷ lệ nhiễm sán ở gan từ 22 % đến 67% [34].
Cũng nghiên cứu tại lò mổ, Anderson và CS (1999) thông báo rằng hơn 66,7% gia súc bị nhiễm bệnh do Fasciola spp. Và số lƣợng sán trong gan đã đƣợc tìm thấy tỷ lệ thuận với độ tuổi của động vật [25]. Có trƣờng hợp hơn 200 con sán đƣợc tìm thấy trong gan nhiễm bệnh của gia súc 3 năm tuổi trở lên. Thời gian nhiễm bệnh do Fasciola ở bê non thƣờng gặp là 3 đến 4 tháng tuổi [34].
Tại Việt Nam chƣa có tài liệu nghiên cứu nào báo cáo về thiệt hại kinh tế do bệnh SLGL. Tại Quảng Nam, Nguyễn Khắc Lực và CS (2010) tiến hành nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm SLGL trên 245 trâu/bò bằng phƣơng pháp tìm trứng trong phân. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm chung là 40,8% và tỷ lệ nhiễm SLGL ở trâu (43,2%) cao hơn ở bò (38,3%).