CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP MÔI TRƯỜNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp môi trường 1.1 Khái niệm về ngành công nghiệp môi trường Một số tổ chức và các nước trên thế giới đưa ra khái niệm về công nghiệp môi trường như sau: Công nghiệp môi trường bao gồm các hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhằm đo lường, ngăn chặn, hạn chế tối thiểu hay hiệu chỉnh tác hại môi trường tới nước; không khí và đất cũng như các vấn đề liên quan đến chất thải và hệ sinh thái (Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế -OECD) [2]. Công nghiệp môi trường bao gồm các dịch vụ sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà chúng có khả năng đo lường, ngăn chặn, hạn chế hay hiệu chỉnh các tác hại môi trường như ô nhiễm nước, không khí, đất cũng như chất thải và các vấn đề liên quan đến tiếng ồn. Chúng cũng bao gồm công nghệ sạch nhằm hạn chế ô nhiễm và sử dụng nguyên liệu thô (Theo Văn phòng thống kê Cộng đồng Châu Âu )[2]. Công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động mang lại thu nhập gắn liền với: Sự tuân thủ các quy định luật pháp về môi trường; đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và phục sinh các tài sản đã bị ô nhiễm; cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các vật liệu được thu hồi và nguồn năng lượng sạch; các công nghệ và các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng trưởng kinh tế bền vững (Theo Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ - USEPA)[3].
Tại Việt Nam, Công nghiệp môi trường được định nghĩa là bao gồm các hoạt động cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường (Theo Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 20/7/2009 ) [4].2 Tổng quan về ngành công nghiệp môi trường thế giới và Việt Nam 1.1 Ngành công nghiệp môi trường thế giới Ngành công nghiệp môi trường trên thế giới có từ rất sớm, xuất hiện ở Mỹ từ những năm 1960. Hiện tại, ngành công nghiệp này rất đa dạng, phát triển ở nhiều 8 nước. Theo thống kê, thế giới hiện có khoảng 350.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Đây là ngành công nghiệp có thiên hướng dịch vụ, trong đó doanh nghiệp chuyên trách chịu trách nhiệm cung ứng một hay nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ trong lĩnh vực hoạt động môi trường, như quản lý chất thải, thiết bị công nghệ môi trường, quản lý tài nguyên.[3] Năm 1992, giá trị thị trường công nghiệp môi trường thế giới ước khoảng 300 tỷ USD.
Năm 1996, con số này tăng lên 453 tỷ USD, năm 2004 tăng 628,5 tỷ USD và năm 2010 đạt khoảng 688 tỷ USD. Các nước Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản… chiếm hầu hết thị phần ngành CNMT thế giới (chiếm tới 85%); trong đó Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới, chiếm tới 38% thị phần của toàn thế giới [2]. Một trong những nước có nền công nghiệp môi trường phát triển mạnh trên thế giới là Mỹ, với nhiều loại hình dịch vụ môi trường phong phú như: xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại; phân tích các thông số môi trường; cung cấp hóa chất, thiết bị, công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường… với nguồn lợi nhuận thu được ngày càng tăng [5]. Điều này được thể hiện rõ qua các năm từ 2000 đến 2010 được trình bày trong bảng sau: Bảng 1.1 Doanh thu từ ngành Công nghiệp môi trường Mỹ giai đoạn 2000 – 2010 Doanh thu (tỷ đôla) Ngành công nghiệp môi trường 2000 2005 2009 2010 Tổng doanh thu 211,2 255 304,6 316,3 Phân tích các thông số môi trường 1,8 1,8 1,9 1,8 Xử lý nước thải 28,7 35,6 44,1 46,9 Xử lý chất thải rắn 39,4 47,8 51,1 52,4 Xử lý chất thải nguy hại 8,2 8,7 8,6 8,7 Dịch vụ về bảo trì hệ thống xử lý 10,1 11 11,9 12,2 9 Doanh thu (tỷ đôla) Ngành công nghiệp môi trường 2000 2005 2009 2010 Tư vần kỹ thuật, công nghệ môi trường 17,4 22,4 25,7 26,2 Cung cấp hóa chất, thiết bị xử lý ô nhiễm 19,8 24,8 26,6 27,2 Sản xuất thiết bị xử lý môi trường 3,8 4,7 5,2 5,5 Cung cấp thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí 19 18,8 15,8 14,9 Cung cấp thiết bị xử lý nước 10 10,1 11 11,1 Tư vấn kỹ thuật ngăn ngừa ô nhiễm 1,2 1,5 1,8 1,9 Cung cấp nước sạch 29,9 35,1 40,6 42,1 Phục hồi các nguồn tài nguyên 16 21 24,5 25,2 Cung cấp năng lượng sạch 5,9 11,9 35,8 40,1 Nguồn: United States Census Bureau 2011 Ở nước Anh, Ủy ban công nghiệp môi trường (The Environmental Industries Commission – EIC) đã thành lập từ năm 1995.
Tổ chức này cung cấp các công nghệ cũng như dịch vụ môi trường và có tiếng nói hết sức mạnh mẽ đối với chính phủ trong việc phát triển các ngành công nghiệp trong tương lai. Trên 240 công ty đã gia nhập vào tổ chức này và con số này ngày càng tăng lên [6]. Nhìn chung, hoạt động của ngành công nghiệp môi trường tại một số nước trên thế giới được chia ra các phân ngành: “Dịch vụ môi trường”, “Thiết bị môi trường” và “Tài nguyên môi trường”. Mỗi phân ngành có lĩnh vực hoạt động khác nhau [2]: - Dịch vụ môi trường: bao gồm các hoạt động có doanh thu từ việc thu phí các dịch vụ môi trường như: phân tích và thử nghiệm môi trường, quản lý và xử lý chất thải, chất thải nguy hại, phục hồi môi trường, tư vấn và dịch vụ kỹ thuật môi trường.
- Thiết bị môi trường: bao gồm các hoạt động có doanh thu từ việc bán hoặc cho thuê thiết bị môi trường như: Thiết bị xử lý chất thải, thiết bị đo và hệ thống 10 thông tin, thiết bị kiểm soát ô nhiễm, thiết bị quản lý chất thải, công nghệ xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm. - Tài nguyên môi trường: bao gồm các hoạt động có doanh thu từ việc bán tài nguyên (ví dụ nước hoặc năng lượng) hoặc tái chế chất thải (ví dụ thép hoặc giấy). Để phát triển ngành công nghiệp môi trường, nhiều nước đã áp dụng các biện pháp [2]: - Xây dựng và cưỡng chế thực thi các đạo luật về bảo vệ môi trường: Xây dựng các đạo luật về bảo vệ môi trường và cưỡng chế thực thi mạnh mẽ các đạo luật đó, là chính sác phổ biến nhất thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp môi trường. Khi các quy định trở nên ngặt nghèo hơn, các doanh nghiệp buộc phải tìm kiếm các giải pháp công nghệ, sản phẩm và dịch vụ mới để đáp ứng.
Ví dụ như Hoa Kỳ, ngành công nghiệp môi trường bắt đầu phát triển từ khi Đạo luật về không khí sạch ban hành năm 1963 với nội dung hạn chế phát thải đối với các hoạt động liên quan đến quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Tương tự như vậy, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về kiểm soát ô nhiễm năm 1967 về giảm phát thải là cơ sở cho việc phát triển ngành công nghiệp môi trường ở nước này. - Xây dựng các chính sách khuyến khích sử dụng sản phẩm dịch vụ ngành công CNMT: Bên cạnh các văn bản luật và vấn đề cưỡng chế, nhằm tạo thị trường cho ngành CNMT, chính phủ các nước cũng khuyến khích doanh nghiệp xây dựng, lắp đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm thông qua ban hành hàng loạt các biện pháp giảm thuế, khấu hao ưu đãi và hệ thống giải thưởng đối với các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngành. - Tổ chức hội thảo, triển lãm, hội trợ quốc tế để quảng bá sản phẩm, dịch vụ CNMT: Các nước tiên tiến thường tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm về các công nghệ, sản phẩm, tư vấn môi trường.
Điển hình là Hoa Kỳ, hàng năm có hàng chục hội thảo quốc tế, hội chợ, triển lãm khác nhua liên quan đến ngành này được tổ chức bởi các hiệp hội chuyên ngành như Hiệp hội xử lý nước thải, Hiệp hội đánh giá tác động môi trường… Các hoạt động này không chỉ giúp quảng bá đối với các nước khác thông qua việc tạo điều kiện, tổ chức cho các đoàn doanh nghiệp nước ngoài tham dự các triển lãm trong nước, cũng như giúp tổ chức các triển lãm ở nước ngoài. 11 - Hỗ trợ ngành CNMT mở rộng thị trường thông qua chính sách ODA: Thông qua các hỗ trợ về ODA đối với các nước đang phát triển, các nước phát triển cũng có chính sách hỗ trợ đối với ngành CNMT trong nước bằng cách có chính sách ưu tiên đối với các dự án ODA sử dụng công nghệ, sản phẩm và tư vấn từ nước tài trợ. Ví dụ điển hình của biện pháp này là Nhật Bản. Nước này đã sử dụng hệ thống hỗ trợ ODA của mình ở các nước đang phát triển để tăng thị phần ngành CNMT của mình tại đây.
- Hỗ trợ các dự án nghiên cứu về CNMT từ ngân sách quốc gia: Các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và các khu vực khác cũng có các hoạt động thúc đẩy ngành CNMT bằng cách xây dựng các dự án nghiên cứu sử dụng kinh phí hỗ trợ của nhà nước. - Hỗ trợ phát triển CNMT thông qua chính sách chuyển giao công nghệ: Hầu hết các nước đang phát triển không tự xây dựng công nghệ, sản phẩm mới mà thường tập trung vào hoạt động tìm kiếm chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển. Điều này cũng thúc đẩy mạnh mẽ thị trường cho ngành CNMT.2 Ngành công nghiệp môi trường Việt Nam a/ Hiện trạng phát triển ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam Thực ra, ở Việt Nam, đối với các chuyên gia và các nhà khoa học môi trường, khái niệm "công nghiệp môi trường" cũng không phải là quá mới mẻ bởi vì họ là những người đầu tiên tiếp cận đến vấn đề này thông qua nghiên cứu, tham gia thảo luận tại các hội nghị chuyên ngành quốc tế. Tuy nhiên, để khái niệm này được xã hội, các doanh nghiệp và người dân tiếp nhận và vận dụng linh hoạt trong thực tế là một chặng đường dài vì đối với họ khái niệm “công nghiệp môi trường” vẫn còn mới mẻ mặc dù ngành công nghiệp môi trường trên thế giới đã phát triển từ rất sớm.
Ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam tuy chưa chính thức hình thành nhưng đã và đang có những đóng góp tích cực không chỉ cho bảo vệ môi trường mà còn hứa hẹn như một ngành kinh tế với nhiều tiềm năng phát triển.