Đặt vấn đề Nước ta thuộc vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa nên rất thuận lợi cho sự tăng trưởng của các loài cây trồng đặc biệt là các loài cây lấy gỗ. Ở vùng hàn đới muốn có cây gỗ đường kính 20- 25 cm thì phải trồng và chăm sóc hàng chục năm, nhưng ở nước ta chỉ cần 5-7 năm (Đối với một số loài cây ưa sáng, mọc nhanh). Sản lượng gỗ khai thác mỗi luân kỳ bình quân đạt từ 60 - 80 m3/ha, ở những nơi đất tốt, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về tuyển chọn giống, hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh thì sản lượng gỗ có thể đạt trên 100 m3/ha. Lượng tăng trưởng hàng năm của cây gỗ càng lớn thì năng suất rừng trồng càng cao, chu kỳ khai thác càng ngắn, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Bên cạnh đó, rừng còn giữ vai trò rất quan trọng trong việc tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và góp phần làm giảm đáng kể sự biến đổi khí hậu toàn cầu… Tính đến ngày 31/12/2010 Việt Nam có 13.075 ha đất có rừng, nhiều hơn so với năm 2008 là 269.302 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.816 ha, rừng trồng là 3. Độ che phủ toàn quốc năm 2010 là 39,5%, tăng 0,8% so với năm 2008 (Theo Quyết định số 1267 QĐ-BNN-KL ngày 08/5/2009 và Quyết định số 1828/QĐ- BNN-TCLN ngày 11/8/2011 của Bộ Nông Nghiệp&PTNT về công bố hiện trạng rừng toàn quốc). Tuy diện n 2 tích rừng và độ che phủ rừng của nước ta đã tăng lên đáng kể nhưng năng xuất và chất lượng rừng vẫn còn thấp. Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay.
Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác trồng rừng trong những năm qua rất được quan tâm; diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể. Đến hết năm 2012 toàn tỉnh đã có 178.815,22 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 95.076,65 ha, rừng trồng 83.738,57 ha (Theo Quyết định số 646/QĐ-UBND ngày 05/4/2013 của UBND tỉnh Thái Nguyên); Tổng trữ lượng gỗ trên 3,5 triệu m3 và có khoảng 25 triệu cây tre nứa. Trong những năm gần đây, tỉnh đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được đưa vào trồng là cây Keo lai và Keo tai tượng, ngoài ra còn các loài cây khác khá phổ biến như: Mỡ, Bạch đàn. Tuy phần lớn diện tích trồng rừng chủ yếu là hai loài Keo trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 15-18m3/ha/năm.
Với lượng tăng trưởng như vậy đã không đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu cho địa phương. Tân Thái là một xã phía Nam huyện Đại Từ và là một trong 6 xã thuộc khu vực phòng hộ đầu nguồn của Hồ Núi Cốc, một trong những hồ nước ngọt có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và công nghiệp của các huyện thị phía Nam tỉnh Thái Nguyên và một số huyện của tỉnh Bắc Giang. Bên cạnh đó trên địa bàn xã Tân Thái có khu du lịch Hồ Núi Cốc, một trong những điểm đến của khách du lịch trong và ngoài tỉnh. Chính vì vậy, rừng ở đây không những có chức năng phòng hộ đầu nguồn mà nó còn có giá trị về vẻ đẹp cảnh quan phục vụ du lịch.
n 3 Xuất phát từ những điều kiện đó cùng với sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trưởng rừng trồng thuần loài Keo tai tượng (Acacia mangium) tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình sinh trưởng, xác định trữ lượng hiện tại, chất lượng rừng trồng thuần loài Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu - Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh đối với kinh doanh rừng trồng Keo tai tượng hạt nhập từ Australia tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Là tài liệu trong học tập và những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. + Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Ứng dụng kết quả nghiên cứu để lựa chọn loài cây trồng, biện pháp kỹ thuật thâm canh có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã Tân Thái n 4 PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm sinh thái cây Keo tai tượng (Acacia mangium) Keo tai tượng (Acacia mangium), còn có tên khác là keo lá to, keo đại, keo mỡ là một cây thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosaceae). Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Bắc Australia, Papua New Guinea, Đông Indonesia.
Vùng phân bố chính rộng nhưng không liên tục từ vĩ tuyến 8 – 180 Nam. Thường phân bố ở những nơi có độ cao rất thấp từ 10 – 400 m và không vượt quá 800 m. Loài này đã được đem trồng thành công ở Sabah (Malaysia), Philippines, Hawaii, Costa Rica và nhiều nơi khác ở châu Á. Người ta sử dụng keo tai tượng để bảo vệ cảnh quan môi trường và lấy gỗ.
Ở Việt Nam, Keo tai tượng được trồng rừng với mục đích chủ yếu là cải tạo môi trường sinh thái và sản xuất gỗ, cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, ván sợi ép, trụ mỏ dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh…. Loài cây Keo tai tượng thích hợp nơi có nhiệt độ bình quân năm 23- 240C, độ cao dưới 600 - 700m so với mực nước biển, độ dốc dưới 20 – 250C, ưa đất tốt sâu dày hơn Keo lá tràm, thành phần cơ giới trung bình, thoát nước. Cây mọc tốt trên nhiều loại đất có pH: 4 – 5; đặc biệt sinh trưởng tốt ở những nơi đất tốt, tầng đất dày, nơi có lượng mưa từ 1500 – 2500 mm/năm. Cây mọc nhanh, khỏe, chịu đựng mọi hoàn cảnh.
Mọc trên nhiều loại đất: Đất pha cát ven biển, đất Bazan, đất bồi tụ, vàng đỏ, phù sa cổ,… Cây gỗ lớn cao 25 - 30m, đường kính có thể đạt tới 60-80 cm.Thân mập, thẳng, vỏ ngoài màu xám, phân cành dài, nhánh non có 3 cạnh to. Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng. n 5 Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu. Về đất đai: chủ yếu trồng trên các loại đất feralit, tầng dày tối thiểu 35 cm, tối ưu: 40 - 50 cm.
Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều có thể trồng được. - Lá đơn, mọc cách, dạng thuôn dài, cong phình rộng ở phần trên, đầu thuôn tù thu hẹp dần ở góc, hẹp theo cuống, màu xanh lục bóng. Có 4 gân từ góc lá, cong theo phiến, gân nhỏ mạng lưới. - Cụm hoa dạng bông ở nách lá.
Hoa nhỏ màu vàng. - Quả đậu, dài, xoắn lại nhiều vòng, màu nâu đậm. - Keo tai tượng mọc tự nhiên ở Australia, được nhập trồng ở nhiều nước nhiệt đới Châu Á. Ở Việt Nam được trồng rộng rãi trong toàn quốc, thường trồng thành rừng tập trung, trồng xen, trồng phân tán,… - Gỗ màu nhạt dễ cưa xẻ, đóng đồ gia dụng, dùng trong xây dựng, xẻ ván, làm bột, giấy, sản xuất ván nhân tạo.
- Là loài cây đa mục đích, thuộc loài cây cố định đạm có tác dụng cải tạo đất. Những nghiên cứu về cây Keo tai tượng 2. Trên thế giới 2. Nghiên cứu cải thiện giống Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng.
Nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippines với 7 loài n 6 cho thấy keo tai tượng có chiều cao đứng thứ 3 ở cả 2 điểm thí nghiệm (Havmoller, 1989). Năm 1986, trên đảo Hải Nam – Trung Quốc với 20 xuất xứ của 8 loài keo đã được thực hiện ở tuổi thứ 2. Trong đó Keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu.
Sau 2 năm tuổi Keo tai tượng sinh trưởng D<7,4 cm, H<4,7 cm (Minquan, Ziayu and Yutian, 1989). Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm tại Thái Lan (P.chittanchumnonK and SirilaK 1991). Kết quả cho thấy sau 36 tháng tuổi tại 2 điểm thí nghiệm: Tại Ratchaouri, Keo tai tượng xuất xứ 13846 xếp thứ 9 có chiều cao 7,2m. Tại Saitheng, Keo tai tượng không nằm trong 10 xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu là vẫn là A.
crassicarpa 13683 với chiều cao 18,4m.Pasad (1992), nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo acacia và một số loài cây khác trên các loại đất hoang hoá tại nhiều khu vực khác nhau ở Ấn Độ, kết quả đã khẳng định được tính trội về khả năng chịu hạn của một số loài keo sinh trưởng trên đất bạc màu như: Acacia leptocarpa, A. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng Theo Vater (1925) thì: “Lập địa nên hiểu là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác động tới sự sinh tồn và phát triển của thực vật” cũng có nghĩa là lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: Khí hậu, địa hình, đất, sinh vật tạo thành một quần lạc sinh địa. Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó con người có vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể hiểu lập địa như là nơi mà cây sinh sống và phát triển hay là phạm vi không gian chứa đựng tất cả các yếu tố ngoại cảnh tác động đến đời sống thực vật.