Chương 1 là phần giới thiệu, ngoài việc nêu lên bối cảnh nghiên cứu, ở phần này còn trình bày mục tiêu nghiên cứu cũng như câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp cũng được nêu sơ bộ trong chương này. Để có thể làm rõ hơn về vấn đề nghiên cứu trong luận văn, chương 2 sẽ tập trung tổng hợp lại các lý thuyết về CSTT và vai trò của CSTT trong nền kinh tế. Ngoài ra, ở chương 2 cũng điểm các nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước, từ đó có thể làm cơ sở để xây dựng mô hình cho luận văn. Tiếp theo, chương 3 sẽ xây dựng thiết kế nghiên cứu, trong chương này, các mô hình nghiên cứu thực nghiệm sẽ được trình bày cùng với việc mô tả các biến đo lường được sử dụng.
Bên cạnh đó, bộ dữ liệu cùng phương pháp xử lý số liệu cũng được nêu rõ trong chương này. Kết quả nghiên cứu sẽ tập trung trong chương 4, việc mô tả tình hình kinh tế và điểm lại các giai đoạn của CSTT sẽ được đưa vào nội dung đầu của chương, những kết quả xử lý số liệu sẽ được đưa vào phần nội dung còn lại của chương. Kết luận và khuyến nghị sẽ được tác giả trình bày trong chương 5 của luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Chính sách tiền tệ Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), CSTT vốn dĩ luôn tồn tại dưới nhiều vỏ bọc khác nhau.Tuy nhiên, ở một cái nhìn tổng thể, CSTT luôn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mức cung cầu tiền sao cho giữ được trạng thái ổn định của lạm phát và TTKT [1].
Trong quá khứ, kinh tế học tiền tệ chuyên nghiên cứu về lý thuyết và CSTT cho rằng giữa kinh tế học vĩ mô và kinh tế học tiền tệ là hai mảng hoàn toàn khác nhau (Walsh, 2010). Mặc dù, các nghiên cứu về CSTT vẫn tập trung tìm ra các mối liên kết giữa các biến số vĩ mô như: lãi suất, thất nghiệp, tỷ giá… Vì thế, vào những năm 1970, những nhà kinh tế học theo trường phái Keynes đã đưa ra nhiều tranh luận dẫn đến sự tái hợp giữa kinh tế học vĩ mô và kinh tế học tiền tệ. Từ đó, CSTT là một phần trong kinh tế học vĩ mô. Theo Keynes (1936), về dài hạn, sản lượng trong nền kinh tế là cố định, do vậy sự thay đổi giá là kết quả của sự thay đổi cung tiền.
Ngược lại, trong ngắn hạn, giá và tiền lương là cứng nhắc nên thay đổi cung tiền sẽ làm thay đổi sản lượng trong nền kinh tế. Theo lý thuyết này, trên thực tế, CSTT của mỗi quốc gia luôn được điều hành bởi Ngân hàng Trung ương để có thể hoàn thành hai mục tiêu chính là ổn định lạm phát và TTKT.2 Vai trò của chính sách tiền tệ Chính sách kinh tế vĩ mô là những công cụ được chính phủ ban hành nhằm điều tiết và giải quyết những vấn đề nhằm đạt được kết quả, thành tựu nhất định nào đó trong nền kinh tế như: giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, duy trì tỷ lệ lạm phát tích cực, thúc đẩy TTKT…theo đó, CSTT là một trong những công cụ này. Theo Friedman (1968), CSTT là một chuỗi mắc xích những yếu tố có tính liên kết trong nền kinh tế vĩ mô. Việc điều hành CSTT có thể nhất thời đạt được một mục tiêu nào đó nhưng cũng có thể trở nên vô dụng đối với một vấn đề có tính hệ thống cao hơn.
Kể từ sau cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 cho đến lúc kinh tế học Keynes ra đời, CSTT bắt đầu có những vai trò tích cực trong việc điều hành kinh tế vĩ mô. Theo mô hình IS – LM, CSTT mở rộng có thể làm tăng tổng cầu và kích thích TTKT. Tuy nhiên, điều này có thể 1 Thông tin truy cập tại https://www.org/external/pubs/ft/fandd/2009/09/pdf/basics. Ngày truy cập: 29/10/2016 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 dễ dàng làm cho mức giá chung trong nền kinh tế cũng tăng theo và từ đó phát sinh lạm phát (Friedman, 1968).
Ngược lại, những cơ hội đầu tư cũng sẽ bị dập tắt một khi CSTT thắt chặt được ban hành, một ví dụ khá rõ là chính sách kiềm chế lạm phát. Tổng cầu hàng hóa trong nền kinh tế sẽ suy giảm và từ đó kéo theo sự sụt giảm mức giá chung trong nền kinh tế. Đây là những vai trò tương đối đơn giản của CSTT trong lý thuyết kinh tế học tân cổ điển, đối với lý thuyết kinh tế học hiện đại, vai trò của CSTT tương đối phức tạp hơn nhiều. Sự thất bại của CSTT mở rộng kéo theo những hệ lụy trong nền kinh tế đã chứng minh sự sai lầm của kinh tế học Keynes thuần túy.
Đồng thời, hai vấn đề có thể buộc CSTT trở nên vô vọng được Friedman (1968) đề cập là: (1) CSTT không thể duy trì lãi suất cố định vượt quá một khoảng thời gian nhất định (2) CSTT không thể duy trì một tỷ lệ thất nghiệp cố định vượt quá một khoảng thời gian nhất định. Ở vấn đề đầu tiên, nếu CSTT mở rộng được ban hành bằng cách duy trì một mức lãi suất thấp, khi đó đầu tư sẽ tăng lên làm cho tổng sản lượng trong nền kinh tế cũng được cải thiện. Lãi suất thấp sẽ kích thích tiêu dùng nhiều hơn, đồng thời cũng làm thu nhập tăng lên tương ứng, khi đó cầu tiền sẽ tăng lên và tạo ra sức ép buộc lãi suất phải thay đổi để có thể đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong nền kinh tế. Ở vấn đề thứ hai, tương tự như vấn đề thứ nhất, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp ở một mức cố định (như tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên) là điều không thể, chính phủ có thể thực hiện CSTT mở rộng để giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp sao cho đạt được mục đích (đường cong Philip).
Thế nhưng, sự phát sinh lạm phát là điều không thể tránh khỏi. Từ đó, buộc chính phủ phải có những động thái để giải quyết vấn đề này và làm cho tỷ lệ thất nghiệp lại thay đổi. Trong bài viết “Vai trò của CSTT”, Friedman (1968) cũng đã chỉ ra ba vấn đề cơ bản mà CSTT có thể thực hiện. Thứ nhất, cũng là vai trò quan trọng nhất, CSTT có thể ngăn chặn có thể thay đổi và hóa giải chính bản thân nó, trước khi nó trở thành nguồn cơn gây ra những hệ lụy cho nền kinh tế.
Thứ hai, CSTT có thể tạo dựng và duy trì một trạng thái ổn định của nền kinh tế. Cuối cùng, những yếu tố gây ra sự đình đốn trong nền kinh tế có thể được CSTT bù đắp và kích thích nền kinh tế vận hành tốt hơn. Như vậy, CSTT luôn có một vai trò nhất định trong nền kinh tế, công cụ này không thể đảm trách mọi thứ, lại càng không phải trở nên vô dụng hoàn toàn. Để có thể điều hành nền kinh tế một cách tốt nhất thông qua CSTT không phải chỉ dựa vào việc neo giữ một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 yếu tố hay tăng, giảm cung tiền, công cụ này đòi hỏi phải có một chiến lược cụ thể, nhờ đó có thể ngăn chặn những hệ lụy mà chính sách này có thể gây ra.3 Những chiến lược của chính sách tiền tệ Các chiến lược thực hiện CSTT thành công được Mishkin (2004) trình bày thông qua việc tập hợp các kiểm chứng từ kinh nghiệm của những nước trên thế giới.
Theo đó, chiến lược cơ bản nhất và cần thiết là neo danh nghĩa, những nhà làm CSTT thường sử dụng những biến số vĩ mô như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát hoặc cung tiền làm neo danh nghĩa cho mục tiêu ổn định mức giá trong nền kinh tế. Nếu xét theo trình tự thời gian, những chiến lược CSTT được các nước trên thế giới lần lượt áp dụng là: cung tiền mục tiêu (MT), tỷ giá mục tiêu (ET) và lạm phát mục tiêu (IT). Thời kỳ hậu thế chiến, hầu hết các nước phát triển đều sử dụng chiến lược cung tiền mục tiêu trong việc điều hành nền kinh tế bằng CSTT. Điều này có thể có thể tương đối dễ hiểu vì giai đoạn này kinh tế học Keynes đang được các quốc gia nghiên cứu và áp dụng.
Việc điều hành CSTT theo chiến lược cung tiền mục tiêu làm tăng tính chủ động hơn đối với ngân hàng trung ương, nhưng nó lại phát sinh những hệ lụy bởi chính bản thân ngân hàng trung ương cũng không thể xác định được lượng cung tiền bao nhiêu có thể đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Giai đoạn sau những năm 1970, chiến lược tỷ giá mục tiêu được lựa chọn nhiều hơn, thời gian này cũng là đỉnh điểm của chính sách thay thế nhập khẩu đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng.Với chiến lược này, CSTT trở nên đơn giản và rõ ràng hơn, ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh cung tiền theo sự biến động của tỷ giá thương mại được neo với một quốc gia phát triển nào đó. Thế nhưng, chiến lược này làm CSTT trở nên bị động, đồng thời dễ bị ảnh hưởng xấu từ những bất ổn kinh tế ở quốc gia mà họ neo tỷ giá. Những năm 1990 đã khởi nguồn cho chính sách lạm phát mục tiêu, Canada, Australia, Thụy Điển cũng đã áp dụng chiến lược này và đây được xem là hữu dụng hơn đối với hai chiến lược trước đó, bởi nó ít tạo ra sự biến động hơn đối với tỷ lệ lạm phát (Svensson, 1997).
Mặc dù vậy, chính sách này chỉ phù hợp với những nước có nền công nghiệp phát triển, ở những nước đang phát triển sẽ khó thực hiện hơn bởi những biến động của sản lượng trong nền kinh tế sẽ nhiều hơn khi ngân hàng trung ương chỉ tập trung vào tỷ lệ lạm phát (Mishkin, 2004). Khi đó, những chiến lược khác như GDP danh nghĩa hay neo giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 xuất khẩu (Frankel, 2010) cũng được đề xuất cho những quốc gia xuất khẩu hàng hóa cơ bản và những nước đang phát triển.4 Cơ chế lan truyền của chính sách tiền tệ Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (Lucas, 1975) được xem là sự khởi nguồn cho những nghiên cứu về tính lan truyền của CSTT, trong đó những cú sốc phi hệ thống của tài khóa và tiền tệ được xem là nguyên nhân hình thành nên cơ chế lan truyền này. Ngoài ra, cơ chế lan truyền chịu ảnh hưởng của thời gian do độ trễ thông tin và hiệu ứng gia tốc (Lucas, 1975) nên CSTT tạo ra sự liên kết có tính tương quan theo chu kỳ đối với những biến vĩ mô như: mức giá, tỷ lệ đầu tư và lãi suất danh nghĩa.