Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lượng viên chức. Chương 2: Thực trạng chất lượng viên chức tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng viên chức tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. 9 e CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG VIÊN CHỨC 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm viên chức Ở bất kỳ quốc gia nào, đội ngũ viên chức đều giữ vai trò là người thực thi công vụ, cung ứng các dịch vụ công, là lực lượng quan trọng trong việc tham mưu hoạch định chính sách và cũng là đối tượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Ở Việt Nam, viên chức đã hình thành từ lâu trong quá trình phát triển của nền hành chính nhà nước và gắn liền với các hoạt động thường xuyên trong cơ quan nhà nước. Tuy nhiên khái niệm viên chức mới được đề cập như một chủ thể độc lập từ hơn một thập kỷ qua.
Năm 1998, Pháp lệnh cán bộ công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về cán bộ, công chức. Dưới pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức, tuy nhiên chưa có sự phân định rõ khái niệm viên chức. Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2000 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước được gọi là “viên chức”.
Đây được coi là điểm tiến bộ hơn rất nhiều so với Pháp lệnh năm 1998 và sửa đổi năm 2000 đã chưa đề cập đến. Như vậy, khái niệm “viên chức” xuất hiện từ lần sửa đổi Pháp lệnh năm 2003. Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”. Các khái niệm lần lượt được Luật Cán bộ, công chức là Luật Viên chức của Nhà nước ta bước đầu phân biệt rõ ràng.
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 e 01 tháng 01 năm 2010. Bên cạnh các khái niệm “cán bộ”, “công chức” là khái niệm “viên chức”. Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin – truyền thông, tài nguyên – môi trường, dịch vụ…như bác sỹ, giáo viên, giảng viên đại học…hưởng lương từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm Viên chức ngành Y tế Theo Nghị định số 75/2017/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế tại Điều 1, vị trí và chức năng của Bộ Y tế quy định: “Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”. Theo quy định trên và từ khái niệm viên chức có thể thấy: - Viên chức ngành Y tế là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong hệ thống Y tế Việt Nam từ Trung ương xuống địa phương; 11 e - Viên chức ngành Y tế hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do vậy, viên chức ngành Y tế là cán bộ viên chức sự nghiệp thuộc hệ thống cán bộ, viên chức của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Bộ Luật lao động.
Khái niệm chất lƣợng viên chức Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau lại có những quan điểm về chất lượng khác nhau. Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu: “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng”. Theo tiêu chuẩn Pháp: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 (tr.144): “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.
Tuy nhiên, chất lượng viên chức không hoàn toàn giống với chất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ, bởi con người là một thực thể phức tạp. Hơn nữa , mỗi cá nhân viên chức không thể tồn tại biệt lập mà phải được đặt trong mối quan hệ với cả tập thể. Chất lượng viên chức là: “tập hợp tất cả những đặc điểm, thuộc tính của từng viên chức phù hợp với cơ cấu, đáp ứng được yêu cầu theo nhiệm vụ và chức năng của cơ quan, đơn vị, đồng thời là tổng hợp những mối quan hệ giữa các cá nhân viên chức với nhau; sự phối kết hợp hoạt động trong thực thi nhiệm vụ chung nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu chung một thời điểm nhất định của địa phương”. Nói đến chất lượng viên chức được biểu hiện cụ thể thông qua tình trạng sức khỏe để làm việc; tiếp đến là chất lượng lao động, khả năng triển khai, hoàn thành nhiệm vụ được giao; thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân trong thực thi công việc; trình độ, 12 e năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị; khả năng thích ứng với điều kiện cải cách hành chính đang diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn hội nhập quốc tế.Ngoài ra, chất lượng viên chức còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa viên chức với nhau: sự phối kết hợp trong công tác, triển khai nhằm hoàn thành nhiệm vụ; giúp đỡ, ủng hộ nhau trong cả quá trình lao động.
Nâng cao chất lƣợng viên chức Dựa vào khái niệm chất lượng viên chức, chúng ta có thể hiểu nâng cao chất lượng viên chức: “ là tập hợp những giải pháp có tác động tích cực đến chất lượng của từng viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân trong tập thể, tinh thần phối hợp trong thực thi công vụ nhằm hoàn thành công việc chuyên môn và hướng tới mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng mà địa phương đặt ra ”. Việc nâng cao chất lượng viên chức được thực hiện thông qua các hoạt động: tuyển dụng, quy hoạch, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, tạo động lực, đánh giá, xếp loại và kiểm tra giám sát đội ngũ viên chức. Một số khái niệm liên quan Gắn liền với khái niệm viên chức, có một số khái niệm liên quan được quy định trong Luật viên chức, cụ thể như sau: - Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn liền với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập. - Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong lĩnh vực nghề nghiệp; được sử dụng làm căn cứ để thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
13 e - Năng lực viên chức: Có nhiều định nghĩa về mặt năng lực, nhưng nhìn chung, năng lực được định nghĩa “là tập hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của một cá nhân được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao trong công viêc mà cá nhân đó đảm nhận, phụ trách”. Do vậy, năng lực gắn liền với đặc tính của cá nhân , hiểu theo đúng nghĩa “đúng người, đúng việc” thì sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của viên chức. Nhiều viên chức có năng lực cao về mặt chuyên môn sẽ góp phần làm nâng cao chất lượng của đội ngũ viên chức. Đặc điểm của viên chức và viên chức y tế Căn cứ vào Luật viên chức năm 2010, viên chức có những đặc điểm chung như: Thứ nhất, viên chức là người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, do đó viên chức cũng có những quyền và nghĩa vụ của viên chức.
Thứ hai, đặc điểm lao động của viên chức là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ mà không phải là thi hành công vụ như cán bộ, công chức. Thứ ba, vì hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ nên quyền của viên chức theo hướng mở hơn công chức tạo điều kiện để viên chức có thể phát huy được tài năng, sức sáng tạo cũng như là khả năng cống hiến cho xã hội trong điều kiện tình hình mới như hiên nay. Một số quyền mới được quy định tại Điều 14 Luật Viên chức năm 2010 (Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định). Cụ thể như: được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; được ký hợp đồng vụ việc với cơ quan, tổ chức đơn vị khác mà pháp luật không cần nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành 14 e công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Song song với việc quy đinh về quyền của viên chức, thì các quy định về nghĩa vụ của viên chức cũng được quy định phù hợp với đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức.