Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lượng tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đầu tư tại ngân hàng Phát triển Việt Nam Chi nhánh Gia Lai Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Chi nhánh NHPT Gia Lai 7 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐẦU TƢ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Tổng quan về tín dụng đầu tƣ trong các Ngân hàng Phát triển. Khái quát chung về Ngân hàng Phát triển Hiện tại các Quốc gia phát triển trên thế giới nền kinh tế ổn định, các mô hình ngân hàng phát triển được tổ chức hoạt động rất hiệu quả, mô hình này đã giúp Chính phủ hỗ trợ, cải cách cơ cấu kinh tế cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng; đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân, nâng cấp cơ sở hạ tầng xã hội.
Một số mô hình ngân hàng phát triển tiêu biểu như: Ngân hàng phát triển Châu Âu (EIB), thành lập năm 1991; Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), được thành lập năm 1966; Ngân hàng phát triển Nhật Bản (DJB), thành lập năm 1999; Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) – 1948. Cho đến nay chưa có một định nghĩa chung về ngân hàng phát triển. Có định nghĩa cho rằng “NHPT là một loại trung gian tài chính được thiết lập nhằm hỗ trợ nền kinh tế - xã hội của quốc gia phát triển lên tầm cao hơn và có tính bền vững, thông qua việc thúc đẩy sự dịch chuyển các nguồn lực kinh tế từ khu vực thặng dư sang khu vực thâm hụt, hay nói cách khác từ lĩnh vực tiết kiệm sang lĩnh vực đầu tư. Theo chức năng này, NHPT vận hành giống như bất kỳ một ngân hàng nào khác.Pena, 2012) Có định nghĩa khác cho rằng “NHPT là một định chế tài chính được thiết lập để đáp ứng một số yêu cầu cụ thể liên quan đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
(Nguồn: Rogério Sobreira, 2008) 8 e Và cũng có định nghĩa cho rằng “NHPT là định chế tài chính nhưng không chỉ dừng lại ở việc cho vay trung và dài hạn đối với các dự án phát triển có ý nghĩa quan trọng của các doanh nghiệp mà còn bao gồm cả việc huy động sự hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức khác để cung cấp nguồn lực cũng như các biện pháp hỗ trợ khác cho các dự án phát triển .Estanislao, 2012) Như vậy, có thể thấy rằng hiện đang tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về NHPT, do đó để đưa ra một định nghĩa chính xác về NHPT là điều rất khó khăn. Nguyên nhân của sự khó khăn này không chỉ bắt nguồn từ việc NHPT là một loại hình trung gian tài chính còn tương đối mới mẻ đối với nhiều nước mà còn từ sự đa dạng về mô hình, chức năng, tên gọi. của loại hình này. Ở Việt Nam, Ngân hàng Phát triển được thành lập từ năm 2006, theo quyết định số 108/2006/QĐ-TTG ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển. Ngày 03/9/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1515/QĐ-TTg ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng phát triển. Theo đó, Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàng chính sách, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện nhiệm vụ chính sách tín dụng của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân 9 e hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Sự hình thành Ngân hàng Phát triển là một tất yếu bởi lẽ: - Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế là rất lớn Để đầu tư phát triển kinh tế, các quốc gia trên thế giới thường huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau. Ngoài huy động vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại, các quốc gia có thể huy động vốn trung, dài hạn từ thị trường vốn mà thị trường chứng khoán là trung tâm. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển, diễn biến trên thị trường chứng khoán thường không mấy ổn định, nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại thường là những nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn; nguồn vốn dài hạn ít.
Trong khi đó, các dự án đầu tư của nhà nước thường có tổng mức đầu tư rất lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài. Do đó, NHPT ra đời với mục tiêu chủ yếu là phục vụ nhu cầu vốn trung, dài hạn cho phát triển kinh tế. - Thực hiện chính sách tín dụng ưu tiên của Nhà nước Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta cần rất nhiều vốn đầu tư mà Nhà nước không thể thoả mãn bằng con đường cấp phát. Vì vậy, Nhà nước sử dụng công cụ tín dụng đầu tư như một biện pháp tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội (giao thông, thủy lợi, điện lực…) cũng như phát triển các ngành công nghiệp then chốt (điện tử - viễn thông, công nghệ sinh học…) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhà nước không thể trực tiếp thực hiện việc này mà phải thông qua một hoặc một số tổ chức tài chính. Việc giao cho một ngân hàng thương mại nào đó thực hiện tín dụng thông thường đồng thời thực hiện tín dụng đầu tư sẽ làm tăng nguy cơ rủi ro từ việc xác định đối tượng đến khả năng giám sát của 10 e Nhà nước. Vì vậy, việc hình thành một định chế tài chính trực thuộc Chính phủ, đảm nhận công tác tín dụng đầu tư là tất yếu. Do đó, NHPT hình thành và trực thuộc sự kiểm soát của Chính phủ, do cho vay các dự án với lãi suất thấp, thời gian dài, rủi ro lớn nên NHPT nhận được sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ thông qua hình thức cấp bù.
- Yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển có hiệu quả Các mục tiêu phát triển thể hiện một cách tập trung nhất những biến đổi quan trọng về mặt chất của nền kinh tế, những mốc phải đạt tới trên con đường phát triển đất nước. Do ngân sách nhà nước (NSNN) hạn hẹp, việc cho vay bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư là một trong những giải pháp hữu hiệu làm cho nguồn vốn của Nhà nước được cộng thêm vốn đối ứng trên thị trường góp phần tăng quy mô và hiệu quả của dự án. Hơn nữa, với nguyên tắc phải hoàn trả nợ vay, chủ đầu tư sẽ có trách nhiệm hơn và giảm bớt tình trạng gây thất thoát, lãng phí nguồn lực. Những đặc điểm, vai trò và hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển 1.
Đặc điểm: Thứ nhất, hầu hết mọi NHPT tại các quốc gia được thành lập đều được bảo lãnh và bị chi phối bởi Chính phủ chính quốc gia đó. Thứ hai, các NHPT thực hiện huy động vốn chủ yếu thông qua các chương trình được Chính phủ bảo lãnh. Thứ ba, về hoạt động cho vay, là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận: NHPT tập trung cho vay các dự án trung dài hạn, khả năng sinh lời thấp nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội với lãi suất thấp, điều kiện đảm bảo tiền vay thông thoáng trong khi phải huy động vốn với lãi suất tiệm cận lãi suất thị trường. NHPT thực hiện nhiệm vụ của mình gắn liền với sự hỗ trợ từ phía Chính phủ.
Mục tiêu đầu tiên của NHPT là sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế thông qua các dự án mà 11 e NHPT cho vay, so với các NHTM đây là sự khác biệt lớn. NHPT được hưởng một số ưu đãi đặc biệt như tỷ lệ dự trữ bắt buộc là không phần trăm, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi và được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế đối với hoạt động tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu. Thứ tư, các ngân hàng phát triển được Chính phủ ưu đãi trong một số lĩnh vực; Thứ năm, ngân hàng phát triển là một TCTC phát triển với nhiệm vụ chính là góp phần thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia có hiệu quả. Vai trò: Từ những đặc điểm nói trên, NHPT có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội: Một là, NHPT là TCTC có nhiệm vụ huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư ưu đãi cho các dự án trọng điểm.
Mục đích trên hết là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia và cộng đồng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Hai là, NHPT góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý nguồn vốn đầu tư của Nhà nước dành cho phát triển kinh tế- xã hội thông qua việc khuyến khích và duy trì hiệu quả kinh tế của các dự án. Ba là, NHPT hỗ trợ các doanh nghiệp và các vùng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là con đường tất yếu của mọi quôc gia trên con đường phát triển kinh tế.
Một trong những yêu cầu phát triển kinh tế có hiệu quả của các nước đang phát triển là công nghệ phải phù hợp với tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện công nghệ còn lạc hậu, nguồn vốn khan hiếm, để phát triển nhanh chóng rất cần phải tập trung các nguồn lực phát triển công 12 e nghệ vào một số đầu mối chính nhằm đầu tư cho các loại hình công nghệ chủ lực phù hợp với điều kiện của đất nước. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển */ Hoạt động huy động vốn Huy động vốn đã trở thành hoạt động chủ yếu của ngân hàng hiện nay.