đặt vấn đề môi trường và phát triển bền vững xuống hàng thứ yếu, sự hạn chế về năng lực và yếu kém đi c ng thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường cũng đã góp phần làm gia tăng những hiểm họa về suy thoái chất lượng nước, đặc biệt ở các thành phố lớn [1]. Môi trường nước sông tại vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Bắc: Trong số con sông đã khảo sát (sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Bạch Đằng, sông Cầu) không có con sông nào đạt quy chuẩn nước mặt loại A1 (nguồn cung cấp nước sinh hoạt), một số sông (sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cà Lồ) không đạt quy chuẩn nước mặt loại B1 13 (dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi) do có các thông số BOD5 và COD vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2015/BTNMT [3]. Môi trường nước sông tại v ng KTTĐ miền Trung: Các con sông lớn trong vùng chảy qua các khu công nghiệp và đô thị có hàm lượng các chất ô nhiễm tập trung cao ở phía hạ lưu: hàm lượng COD và BOD5 đạt QCVN 08:2015/BTNMT loại B1, phần lớn các kim loại nặng và các muối dinh dưỡng đạt QCVN 08:2015/BTNMT loại B1 [3]. Nước thải tại các khu công nghiệp được quan trắc có hàm lượng chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, Coliform, Nitơ tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP).
Nước thải tại các khu đô thị: độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng N- NH4+, Nitơ tổng vượt TCCP. Môi trường nước sông tại v ng KTTĐ phía Nam:Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông: là lưu vực chịu ảnh hưởng ít nhất của nước thải công nghiệp trên toàn vùng KTTĐ phía Nam, tuy nhiên chất lượng nước tại đây cũng đã có dấu hiệu ô nhiễm. Ở một vài điểm, COD và hàm lượng chất dinh dưỡng đó vượt QCVN 08:2015/BTNMT loại B [9]. Lưu vực sông Sài Gòn: Chất lượng nước liên quan chặt chẽ đến sức khỏe cộng đồng.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tật ở con người xuất phát từ việc sử dụng nguồn nước không sạch và vệ sinh môi trường kém. Hiện nay, nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng chủ yếu là nước máy đã qua xử lý từ nguồn nước thô lấy tại sông Sài Gòn - Đồng Nai, và một phần trên kênh Đông. Trong nhiều năm qua, hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng nước cấp cho sinh hoạt đã được đặt tại các trạm thượng lưu sông Sài Gòn như Bến Củi, Bến Súc, Thị Tính và Phú Cương, hai trạm khác là Hóa An đặt trên sông Đồng Nai và trạm N46 trên kênh Đông. Các kết quả quan trắc cho thấy một số chỉ tiêu đạt chuẩn cho phép như: Nhu cầu oxy sinh học, nhu 14 cầu oxy hóa học, độ mặn, chỉ tiêu kim loại nặng, chỉ tiêu nitơ đạt quy chuẩn cho phép.
Nhưng nhiều chỉ tiêu như: pH, độ đục, nồng độ chất rắn hòa tan trong nước, oxy hòa tan, nồng độ dầu và vi sinh vật tại hầu hết các trạm quan trắc vượt mức cho phép. Để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho hơn 7 triệu dân thành phố, cần phải có giải pháp hữu hiệu khống chế nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải, giảm tải lượng chất ô nhiễm đổ xuống sông Sài Gòn. Không cấp phép đầu tư cho các dự án thuộc nhóm ngành có gây ô nhiễm cao như: Hóa chất, cao su, sản xuất bột giấy, chế biến thực phẩm… trên khu vực thượng nguồn. Giải pháp di dời trạm lấy nước cung cấp cho sinh hoạt lên phía thượng nguồn cũng đang được bàn tới nếu tình trạng ô nhiễm của sông Sài Gòn [5].
Lưu vực sông Đồng Nai và Thị Vải: Là nơi tập trung của nhiều khu công nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp, các nhà máy đã hình thành khá lâu đời. Tuy nhiên, mức độ tập trung các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng như sản xuất phân bón, hóa chất… chủ yếu tập trung ở phía hạ lưu và nhánh sông Thị Vải trong đó đáng chú ý là khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam là hai đơn vị xả thải các chất gây ô nhiễm môi trường cao nhất. Các thông số ô nhiễm như hữu cơ, chất rắn lơ lửng, vi sinh… vượt quy chuẩn cho phép hàng chục, thậm chí hàng trăm lần [5]. Ngoài ra, nước thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị, khu dân cư đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước tại các dòng sông nói riêng và các nguồn nước nói chung tại các v ng KTTĐ.
Hiện nay, tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa và một số các khu đô thị đã bắt đầu tiến hành quy hoạch và xây dựng các hệ thống xử lý nước thải cho khu dân cư. Tuy nhiên, một số dự án đã triển khai nhưng tiến độ chậm và chưa đạt hiệu quả mong muốn [5]. 15 Chƣơng 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học về thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất lượng nước sông tại các khu vực làng nghề Việt Nam.2 Mục tiêu cụ thể Đánh giá thực trạng chất lượng và hoạt động quản lý chất lượng nước mặt sông Đáy thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Xác định nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng nước sông khu vực nghiên cứu; Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước sông khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Đề tài triển khai nghiên cứu chất lượng nước mặt khu vực sông Đáy thuộc địa phận huyện Chương Mỹ. Để đánh giá chất lượng nước mặt, đề tài sử dụng một số thông số môi trường như sau: 16 Bảng 2. Danh sách các thông số quan trắc chất lƣợng môi trƣờng nƣớc sông Đáy, huyện Chƣơng Mỹ Thông số Ý nghĩa Cách thức đánh giá môi trƣờng pH là đơn vị toán học Khi chỉ số pH < 7 thì nước có môi trường biểu thị nồng độ ion H+ axít; pH > 7 thì nước có môi trường kiềm, có trong nước và có điều này thể hiện ảnh hưởng của hoá chất pH thang giá trị từ 0 đến 14.
khi xâm nhập vào môi trường nước. Giá trị pH thấp hay cao đều có ảnh hưởng nguy hại đến thuỷ sinh. Chất rắn lơ lửng nói Hàm lượng chất rắn hoà tan trong nước thấp riêng và tổng chất rắn làm hạn chế sự sinh trưởng hoặc ngăn cản nói chung có ảnh hưởng sự sống của thuỷ sinh. Hàm lượng chất rắn đến chất lượng nước lơ lửng trong nước cao gây nên cảm quan trên nhiều phương diện.
không tốt cho nhiều mục đích sử dụng Phân biệt các chất rắn lơ Chất rắn lơ lửng của nước để kiểm lửng soát các hoạt động sinh học, đánh giá quá trình xử lý vật lý nước thải, đánh giá sự phù hợp của nước thải với tiêu chuẩn giới hạn cho phép. Ô xy có mặt trong nước Các sông hồ có hàm lượng DO cao được coi một mặt được hoà tan là khoẻ mạnh và có nhiều loài sinh vật sống từ ô xy trong không trong đó. Khi DO trong nước thấp sẽ làm khí, một mặt được sinh giảm khả năng sinh trưởng của động vật ra từ các phản ứng tổng thuỷ sinh, thậm chí làm biến mất hoặc có DO hợp quang hoá của tảo thể gây chết một số loài nếu DO giảm đột và các thực vật sống ngột. Nguyên nhân làm giảm DO trong trong nước.
nước là do việc xả nước thải công nghiệp, nước mưa tràn lôi kéo các chất thải nông nghiệp chứa nhiều chất hữu cơ, lá cây rụng 17 vào nguồn tiếp nhận. Vi sinh vật sử dụng ô xy để tiêu thụ các chất hữu cơ làm cho lượng ô xy giảm. COD là lượng ô xy cần COD là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá thiết cho quá trình ô xy mức độ ô nhiễm của nước (nước thải, nước hoá hoàn toàn các chất mặt, nước sinh hoạt) vì nó cho biết hàm hữu cơ có trong nước lượng chất hữu cơ có trong nước là bao COD thành CO2 và H2O. Hàm lượng COD trong nước cao thì chứng tỏ nguồn nước có nhiều chất hữu cơ gây ô nhiễm BOD là lượng ô xy (thể Giá trị của BOD phụ thuộc vào nhiệt độ và hiện bằng gam hoặc thời gian ổn định nên việc xác định BOD miligam O2 theo đơn vị cần tiến hành ở điều kiện tiêu chuẩn, ví dụ ở thể tích) cần cho vi sinh nhiệt độ 200C trong thời gian ổn định nhiệt BOD vật tiêu thụ để ô xy hoá 5 ngày (BOD520).
sinh học các chất hữu cơ trong bóng tối ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian Nitrat là sản phẩm cuối Nước tự nhiên có nồng độ nitrat thường <5 cùng của sự phân huỷ mg/l. ở vùng bị ô nhiễm do chất thải, phân các chất chứa nitơ có bón, nồng độ nitrat cao là môi trường dinh trong chất thải của dưỡng tốt cho phát triển tảo, rong, gây ảnh - Nitrat(NO3 ) người và động vật. hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt và thuỷ sản. Trẻ em uống nước có nồng độ nitrat cao có thể ảnh hưởng đến máu gây bệnh xanh xao.
Phosphat là chất dinh Nồng độ phosphat trong nguồn nước không dưỡng cho sự phát triển bị ô nhiễm thường <0,01 mg/l Photphat rong tảo. Nguồn (PO43-) phosphat đưa vào môi trường là phân người, phân súc vật và nước 18 thải một số ngành công nghiệp sản xuất phân lân, công nghiệp thực phẩm và trong nước chảy từ đồng ruộng Vi khuẩn Coliforms là Vi khuẩn nhóm Coliform (có mặt trong ruột một loại vi khuẩn gram non và phân của động vật máu nóng, qua kỵ khí, có dạng hình con đường tiêu hoá mà chúng xâm nhập vào que và không bào tử. môi trường và phát triển mạnh nếu có điều Vi khuẩn coliform kiện nhiệt độ thuận lợi. Số liệu Coliform thuộc nhóm vi khuẩn cung cấp cho chúng ta thông tin về mức độ phổ biến và tồn tại vệ sinh của nước và điều kiện vệ sinh môi Coliform được trong nhiều môi trường xung quanh.
trường khác nhau như đất, nước (nước uống, nước sinh hoạt và nước nuôi trồng thủy sản), thực phẩm và trong phân động vật. Trong nước, bề mặt tự Lượng amoniac trong nước thải từ khu dân nhiên của vùng không cư và từ các nhà máy hoá chất, chế biến ô nhiễm amoniac chỉ có thực phẩm, sữa có thể lên tới 10-100 Amoniac ở nồng độ vết (dưới mg/l.Amoniac có mặt trong nước cao sẽ gây 0,05 mg/l). nhiễm độc tới cá và các sinh vật.