Chương 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 1. Khái quát diện mạo văn học Việt Nam sau năm 1975 1. Bối cảnh lịch sử xã hội và sự phát triển của văn học sau năm 1975 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Sự kiện ấy mở ra một thời kì mới cho lịch sử dân tộc- thời kì độc lập tự do.
Tuy nhiên, từ năm 1975 đến 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách, khó khăn mới, nhất là về kinh tế, chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt ba mươi năm. Tình hình đó đòi hỏi đất nước ta phải đổi mới. Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã chỉ rõ đổi mới là “nhu cầu bức thiết” của toàn dân tộc. Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới.
Chính sự du nhập ồ ạt của những luồng tư tưởng, văn hóa hiện đại trên thế giới đã làm cho dịch thuật, báo chí, các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ và tác động không nhỏ tới sự phát triển của văn học. Cùng với sự đổi mới về hoàn cảnh lịch sử, xã hội thì văn hóa- tư tưởng cũng có những chuyển biến nhất định. Sau chiến tranh, con người trở về với cuộc sống đời thường- cái đời thường phồn tạp, muôn vẻ lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài.ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con người trỗi dậy. Những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, tâm lí thực dụng, lối sống chạy theo hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ các giá trị tinh thần đang chi phối phần lớn người dân, nhất là giới trẻ.
c 12 “Cuộc sống thay đổi rất nhiều mà văn học vẫn giữ nguyên bộ quần áo cũ” [34,15]. Nếu như trong chiến tranh trăm người như một, đồng tâm nhất trí sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp chung thì sau chiến tranh khi con người trở về với cuộc sống đời thường, đối mặt với những lo toan cá nhân, những khó khăn của cuộc sống hiện tại, mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa lợi ích chung và riêng không còn hoàn toàn thống nhất như trước. Chính sự chuyển biến của lịch sử, đời sống xã hội- văn hóa- tư tưởng đã tác động mạnh mẽ đến những đổi thay trong nhu cầu và quan niệm thẩm mĩ đòi hỏi văn học với chức năng phản ánh hiện thực cần phải đổi mới để phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học. Công cuộc đổi mới đã đáp ứng đúng nguyện vọng của các nhà văn và độc giả cũng như quy luật phát triển khách quan của lịch sử, và nó trở thành phong trào mạnh mẽ.
Năm 1976 Thái Bá Lợi viết Hai người trở lại trung đoàn, năm 1979 Nguyên Trọng Oánh viết Đất trắng, Nguyễn Khải viết Cha và con, Thời gian của người, Nguyễn Mạnh Tuấn viết Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao tràm, Ma Văn Kháng viết Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Nguyễn Minh Châu viết Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Lê Lựu viết Thời xa vắng. Như vậy hoàn cảnh lịch sử mới đã tạo nên một nền văn học có những thay đổi rõ nét có chiều sâu, phát triển theo hướng đổi mới, dân chủ phát triển mạnh mẽ gây được sự chú ý của dư luận. Văn học từ sau 1975 đến nay đã đi qua ba chặng đường, tuy có sự biến đổi qua mỗi chặng nhưng vẫn là sự tiếp nối không đứt đoạn: Giai đoạn từ 1975 đến 1985 là thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này được thể hiện rõ ở các phương diện đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học.
Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi vẫn nổi trội, tuy đã có những tìm tòi và bước phát triển mới, cả ở văn xuôi và thơ. c 13 Trong văn xuôi, một số cây bút đã nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong cuộc chiến, đây cũng là cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hy sinh và ý nghĩa lớn lao của cuộc chiến. Tiêu biểu là tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nắng đồng bằng của Chu Lai. Trong thơ, mạch cảm hứng trữ tình- sử thi vẫn tiếp tục dòng chảy mạnh mẽ cùng xu hướng nhìn lại khái quát về cuộc chiến tranh và hành trình của những thế hệ đã đi qua cuộc chiến đấu lâu dài và quyết liệt ấy.
Một loạt các Trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ xuất hiện như Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Mặt trời trong lòng đất của Trần Mạnh Hảo. Bước vào những năm đầu thập kỷ tám mươi, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Văn học cũng theo đó mà chững lại và nhiều cây bút đã lâm vào tình trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác. Đây là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân không trong văn học”.
Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học với những trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình. Đó là những người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học mà người “mở đường tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất ở chặng đầu này là Nguyễn Minh Châu với những truyện ngắn hướng vào các vấn đề thế sự- đạo đức trong đời sống hàng ngày của con người. Những tìm tòi và thành công bước đầu ấy mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới về hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức- thế sự đang tồn tại nổi cộm, đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá. Giai đoạn từ 1986 đến năm 1990 là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Đường lối c 14 đổi mới tại Đại hội VI của Đảng và tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ chính trị, cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã đánh dấu thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật. Vào nửa cuối những năm 80 và đầu những năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản. Tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự- đời tư ở đầu những năm 80, nhiều cây bút đã khơi sâu vào mọi khía cạnh của đời sống cá nhân, hứng thú đi vào khám phá và thể hiện phần bản năng tự nhiên của con người, nói như Nguyễn Minh Châu“cuộc đời vốn đa sự, con người thì đa đoan”. Các thể loại văn học đều có sự biến đổi.
Thơ gặp nhiều khó khăn và có những khoảng thời gian chững lại rõ rệt. Giữ vai trò xung kích và phát triển sôi nổi, phong phú nhất là văn xuôi với sự đa dạng của các thể truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, phóng sự.với những tác phẩm và tên tuổi như Thời xa vắng của Lê Lựu, Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp,. Giai đoạn từ 1990 đến hết thế kỷ XX, văn học trở lại với những quy luật bình thường và hướng sự quan tâm nhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật. Trong thơ, những cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa đã thu hút được nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Bóng chữ của Lê Đạt, Mùa sạch của Trần Dần, Ngựa biển của Hoàng Hưng.Một số cây bút trẻ gây được sự chú ý bằng những tìm tòi mới, táo bạo trong hướng đi sâu vào bản thể của con người với khát vọng thành thực phơi trải tất cả mọi điều trên trang giấy như tác giả Đồng Đức Bốn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh.
Trong văn xuôi, nổi lên hai mảng thể loại khá chú ý: Hồi ký- tự truyện và tiểu thuyết lịch sử đem đến cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, đời sống văn học. Ví như tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo. c 15 Như vậy, văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ thời kì Đổi mới đã tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội khác biệt rõ rệt so với thời kì chiến tranh, trong một môi trường ý thức tinh thần có nhiều biến đổi. Những điều đó đã tác động, chi phối mạnh mẽ xu hướng vận động và đặc điểm phát triển của văn học.
Yêu cầu đổi mới văn học và những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam sau năm 1975 Nền văn học kháng chiến phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khi cả dân tộc đang phải dồn tất cả tinh thần, sức lực và của cải vào cuộc chiến đấu cho độc lập tự do, thống nhất đất nước. Vì vậy, lẽ tất yếu là văn học phải hướng vào những mục tiêu, nhiệm vụ cao cả của dân tộc. Bởi vậy, hiện thực mà văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 quan tâm trước hết là những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, liên quan đến vận mệnh của dân tộc, nhân dân. Đời sống thế sự, riêng tư ít được quan tâm thể hiện, nếu có thì cũng phải được nhìn nhận và đánh giá trên quan điểm cộng đồng.
Chính vì vậy mà văn học thời chiến vẫn còn mang tính phiến diện trong việc phản ánh hiện thực đời sống bằng những mô hình mang tính giản đơn, quy phạm và hướng giải quyết có tính công thức. Sau năm 1975, cả nước đón nhận niềm vui chiến thắng với tinh thần hào hứng, phấn khởi.