Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nội dung của luận văn và các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết nền Trong phần này, tác giả giới thiệu lý thuyết Đánh đổi, lý thuyết Trật tự phân hạng và lý thuyết Dòng tiền tự do để mô tả chi tiết những các yếu tố trong ba lý thuyết này tác động lên mức độ nắm giữ tiền mặt của công ty.1 Lý thuyết đánh đổi (Trade-off Theory) Lý thuyết đánh đổi cho rằng các doanh nghiệp thiết lập mức độ nắm giữ tiền tối ưu bằng cách tính toán chi phí biên và lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền. Có nhiều lợi ích liên quan đến việc nắm giữ tiền. + Thứ nhất, việc nắm giữ tiền làm giảm khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính khi nó hoạt động như là một dự trữ an toàn để đối mặt với tổn thất bất ngờ hoặc các khó khăn huy động vốn bên ngoài. + Thứ hai, việc nắm giữ tiền cho phép theo đuổi các chính sách đầu tư tối ưu thậm chí là khi các khó khăn tài chính xảy ra.
+ Thứ ba, việc nắm giữ tiền góp phần làm tối thiểu chi phí huy động vốn bên ngoài hoặc thanh lý các tài sản hiện hữu dễ thanh khoản. Dưới đây là một số đánh giá ngắn gọn về các đặc điểm doanh nghiệp mà theo lý thuyết đánh đổi là liên quan đến quyết định việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp. Với quan điểm như trên, một doanh nghiệp hiện chi trả cổ tức có thể huy động vốn với chi phí thấp bằng cách giảm các khoản chi trả cổ tức, ngược lại với các doanh nghiệp không phải chi trả cổ tức phải sử dụng thị trường vốn để huy động vốn. Do đó, người ta cho rằng các doanh nghiệp chi trả cổ tức nắm giữ ít tiền hơn các doanh nghiệp không chi trả cổ tức.
Lý thuyết cũng dự đoán rằng các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt hơn sẽ chịu chi phí khủng hoảng tài chính lớn hơn vì NPV dương của các cơ hội đầu tư biến mất (gần như hoàn toàn) trong trường hợp phá sản. Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trường hợp này, các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt hơn sẽ giữ mức nắm giữ tiền cao hơn để tránh khủng hoảng tài chính. Các tài sản ngắn hạn khác tiền mặt có thể được thanh lý trong trường hợp thiếu hụt tiền, chúng có thể được xem như là sự thay thế cho việc nắm giữ tiền, vì vậy mà các doanh nghiệp có nhiều sự thay thế các tài sản lưu động được dự kiến nắm giữ ít tiền hơn. Đòn bẩy làm tăng khả năng phá sản do áp lực của các kế hoạch trả nợ đặt lên việc quản lý quỹ doanh nghiệp, để giảm khả năng trải qua khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp có đòn bẩy cao hơn nắm giữ nhiều tiền hơn (Ferreira, Antonio và Vilela, 2004).2 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking OrderTheory) Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) phát biểu rằng các doanh nghiệp tài trợ cho các dự án đầu tư trước hết bằng lợi nhuận giữ lại, sau đó đến các khoản nợ an toàn và các khoản nợ rủi ro hơn và cuối cùng là vốn cổ phần.
Mục đích của điều này là để giảm thiểu chi phí bất cân xứng thông tin và các chi phí tài chính khác. Lý thuyết này cho rằng các doanh nghiệp không có mức nắm giữ mục tiêu, nhưng thay vào đó, tiền được sử dụng như một tấm đệm giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư. Do đó, khi dòng tiền hoạt động hiện tại đủ để tài trợ cho đầu tư mới, doanh nghiệp mới hoàn trả nợ và tích lũy tiền. Khi lợi nhuận giữ lại không đủ để tài trợ cho các đầu tư hiện tại, doanh nghiệp sử dụng tiền tích lũy và nếu cần phát hành nợ.
Bằng cách lập luận như trên, một sự thiết lập cơ hội đầu tư lớn tạo ra nhu cầu khoản tiền lớn, vì sự thiếu hụt tiền có nghĩa là nếu một công ty không tài trợ bằng nguồn vốn bên ngoài tốn kém nó phải từ bỏ các cơ hội đầu tư sinh lợi. Do đó, Lý thuyết trật tự phân hạng dự đoán mối quan hệ đồng biến giữa thiết lập cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền. Trong thế giới được phân hạng, nợ thường tăng khi đầu tư vượt quá lợi nhuận giữ lại và giảm khi đầu tư ít hơn lợi nhuận giữ lại. Do đó, nắm giữ tiền theo mô hình ngược lại, ví dụ, nắm giữ tiền giảm khi đầu tư vượt quá lợi nhuận giữ lại và tăng khi đầu tư ít hơn lợi nhuận giữ lại.
Mối quan hệ này giữa nắm giữ tiền, nợ và đầu tư cho rằng có một mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy và nắm giữ tiền. Theo quan điểm của thuyết này, công ty nào có quy mô càng lớn thì nắm giữ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 càng nhiều tiền hơn, các doanh nghiệp lớn hơn có lẽ thành công hơn và do đó có nhiều tiền hơn, sau khi kiểm soát đầu tư (Opler, 1999). Cũng theo quan điểm của thuyết này, nó dự kiến rằng các doanh nghiệp có dòng tiền cao sẽ có nhiều tiền hơn.3 Lý thuyết dòng tiền tự do (Free CashFlow Theory) Jensen (1986) cho rằng các nhà quản lý có một động cơ để tích trữ tiền nhằm làm tăng tài sản dưới sự điều hành của họ và để tăng quyền tự quyết các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Có tiền sẵn để đầu tư, các nhà quản lý không cần phải huy động vốn ở bên ngoài và để cung cấp thông tin chi tiết về các dự án đầu tư của doanh nghiệp.
Do đó, các nhà quản lý có thể thực hiện các đầu tư mà có một tác động ngược chiều lên sự giàu có của cổ đông. Giám đốc của những công ty có cơ hội đầu tư yếu được dự kiến nắm giữ nhiều tiền hơn để đảm bảo sự sẵn có của các quỹ cho đầu tư vào các dự án tăng trưởng, ngay cả khi NPV của các dự án là âm. Điều này sẽ dẫn đến sự giảm sút trong giá trị cổ đông và ngay cả khi doanh nghiệp có chương trình đầu tư lớn, với một giá trị thị trường trên sổ sách thấp. Do đó, sử dụng giá trị thị trường trên giá trị sổ sách lớn như là một đại diện, có khả năng mối quan hệ giữa sự thiết lập cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền sẽ là ngược chiều.
Các doanh nghiệp có đòn bẩy thấp ít quan tâm đến việc giám sát, cho phép quyết định quản trị cao hơn. Do đó, lý thuyết dự kiến đòn bẩy thấp nắm giữ nhiều tiền hơn. Các doanh nghiệp lớn hơn có xu hướng phân tách lớn hơn, điều đó làm phát sinh các quyết định quản trị cao hơn. Hơn nữa, các công ty lớn hơn không có khả năng là mục tiêu của tiếp quản do số lượng các nguồn lực tài chính cần cho nhà thầu.
Do đó, người ta cho rằng giám đốc các công ty lớn có quyền tự quyết hơn về các chính sách tài chính và đầu tư của công ty, dẫn đến một sự nắm giữ tiền lớn hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Tóm tắt mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và tiền mặt như sau: Thuyết trật tự phân Thuyết dòng tiền tự Biến độc lập Thuyết đánh đổi hạng do MKTBOOK Đồng biến Đồng biến Nghịch biến CFLOW Nghịch biến Đồng biến SIZE Nghịch biến Đồng biến Đồng biến NWC Nghịch biến LEVERAGE Không xác định Nghịch biến Nghịch biến DIV DUM Nghịch biến RISK Đồng biến Nguồn: là kết quả tổng hợp từ các nghiên cứu của tác giả 2.4 Động cơ nắm giữ tiền mặt Bên cạnh ba lý thuyết được phát triển ở trên, nhiều mô hình được nghiên cứu để giải thích mức nắm giữ tiền tối ưu của doanh nghiệp dựa vào các động cơ khác nhau. Động cơ giao dịch. Được phát triển như là một mô hình nhu cầu tối ưu của tiền mặt dựa trên chi phí giao dịch.
Đầu tiên, được đưa ra bởi Baumol (1952) và Miller và Orr (1966). Động cơ này được giải thích rằng lợi ích chính của việc giữ tiền mặt là công ty có thể làm giảm chi phí giao dịch bởi việc dùng tiền của nó để thanh toán hơn là việc sử dụng những tài sản dễ thanh khoản khác. Doanh nghiệp sẽ giữ nhiều tiền hơn khi chi phí giao dịch cao hơn để chuyển đổi tài sản không phải tiền mặt sang tiền mặt, trong việc nắm giữ ít tiền khi chi phí cơ hội của tiền cao hơn. Nhu cầu tối ưu của tiền mặt khi một công ty phải gánh chịu những chi phí giao dịch của việc chuyển đổi tài sản không phải ngắn hạn thành tiền mặt và sử dụng tiền mặt đó cho việc thanh toán (Bates 2009).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Động cơ phòng ngừa. Các công ty giữ tiền mặt để đối phó tốt hơn với những cú sốc bất lợi khi tiếp cận thị trường vốn rất tốn kém. Phù hợp với quan điểm này, Opler, Pinkowitz, Stulz, and Williamson (1999) (gọi là OPSW) cho thấy rằng các công ty có những dòng tiền rủi ro hơn và khó tiếp cận nguồn vốn bên ngoài giữ tiền mặt nhiều hơn. Động cơ phòng ngừa cũng cho thấy rằng các công ty có cơ hội đầu tư tốt hơn giữ nhiều tiền mặt hơn vì những cú sốc bất lợi và khủng hoảng tài chính gây nhiều tốn kém cho họ.
OPSW cũng tìm thấy hỗ trợ cho dự báo này sử dụng hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách và chi phí R & D như những sự ủy quyền cho những cơ hội đầu tư. Han và Qiu (2007) thấy rằng về mặt lý thuyết thì sự gia tăng trong sự biến động của dòng tiền tăng việc nắm giữ tiền mặt cho các doanh nghiệp mà hạn chế về tài chính, nhưng không có ảnh hưởng quyết định vào các công ty khác. Động cơ đại diện. Như lập luận của Jensen (1986), các nhà quản lý bảo thủ thà giữ tiền mặt hơn là tăng tiền trả cho các cổ đông khi công ty có cơ hội đầu tư kém.
Việc nắm giữ tiền mặt tùy ý thường được ước tính là nắm giữ tiền mặt dư thừa có nguồn gốc từ các mô hình kiểm soát cho động cơ giao dịch và phòng ngừa để giữ tiền mặt. Dittmar, Mahrt -Smith, và Servaes (2003) tìm thấy bằng chứng xuyên quốc gia cho thấy rằng các công ty giữ tiền mặt nhiều hơn ở các nước có vấn đề đại diện lớn hơn.