Tổng quan nghiên cứu

Bối cảnh tài chính công tại Việt Nam cuối năm 2014 ghi nhận áp lực lớn khi nợ công chạm ngưỡng 60,3% GDP, trong khi cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố có khả năng tự cân đối và đóng góp về ngân sách Trung ương. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị thế chiến lược đặc biệt khi đóng góp khoảng 17,20% GDP cả nước, 56% sản lượng lúa, 50% sản lượng trái cây, 57% sản lượng thủy sản, chiếm 90% sản lượng gạo xuất khẩu và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn quốc. Dù nguồn thu ngân sách nhà nước của toàn vùng có sự tăng trưởng vượt bậc từ 24.128 tỷ đồng năm 2005 lên mức 96.715 tỷ đồng vào năm 2014 (tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,27%/năm), nguồn thu thực tế vẫn chưa đảm bảo tính ổn định và chưa đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu thường xuyên lẫn đầu tư phát triển.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các tỉnh Tây Nam Bộ vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn trợ cấp từ ngân sách cấp trên, khi Trung ương phải hỗ trợ bù đắp hụt chi trung bình 33,31%/năm. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là phân tích, kiểm định và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội đến nguồn thu ngân sách nhà nước tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn 2005–2014. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 13 địa phương bao gồm An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm vững chắc, giúp các nhà hoạch định chính sách địa phương xây dựng giải pháp khai thác tối đa nguồn thu nội tại, giảm dần mức phụ thuộc hỗ trợ từ Trung ương xuống mức thấp nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý thuyết tài chính công hiện đại và các nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước nền tảng, bao gồm nguyên tắc niên hạn, nguyên tắc đơn nhất và nguyên tắc toàn diện theo hệ thống hóa của GS.TS. Sử Đình Thành và PGS.TS. Bùi Thị Mai Hoài (2009). Bản chất của ngân sách nhà nước được xác định là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của quốc gia nhằm thực hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội, điều tiết vĩ mô và phân phối lại thu nhập công bằng (Lê Thị Mận, 2010; Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002).

Khung phân tích kế thừa trực tiếp từ các mô hình nghiên cứu thực nghiệm quốc tế tiêu biểu như mô hình của Gupta (2007) trên 105 quốc gia, mô hình của Ajaz và Ahmed (2010) trên 25 quốc gia đang phát triển, kết hợp cùng các công trình nghiên cứu trong nước của Võ Thành Vân (2010) trên 64 tỉnh thành và Nguyễn Phi Khanh (2013) trên 7 quốc gia Đông Nam Á. Luận văn thiết lập mô hình kinh tế lượng gồm 1 biến phụ thuộc là Thu ngân sách nhà nước (THUNS) và 7 biến độc lập đặc trưng cho nền kinh tế địa phương:

  • GDP bình quân đầu người (GDPBQ)
  • Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (TYTRONGNN)
  • Độ mở cửa thương mại (MOCUATM)
  • Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (NLCT)
  • Tỷ lệ thu chi ngân sách (TLTHUCHINS)
  • Số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn (SLDN)
  • Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm (TYLEDS)

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng chuyên sâu kết hợp phân tích thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ từ Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê và các báo cáo quyết toán ngân sách chính thống của 13 tỉnh ĐBSCL trong chuỗi thời gian 10 năm từ 2005 đến 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu đạt 130 quan sát (13 tỉnh x 10 năm), cấu thành một bộ dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) hoàn chỉnh. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh toàn diện và khách quan của vùng kinh tế Tây Nam Bộ.

Quy trình ước lượng kinh tế lượng được thực hiện trên phần mềm chuyên dụng Stata 13 qua các bước tuần tự: Hồi quy gộp (Pooled OLS), Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Thông qua các kiểm định thống kê F-test và Hausman test, Mô hình tác động cố định (FEM) được lựa chọn là mô hình tối ưu nhất do kiểm soát được các yếu tố đặc thù bất biến theo thời gian của từng tỉnh. Nhằm xử lý triệt để các khuyết tật về hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan thường xuất hiện trong dữ liệu chuỗi thời gian của các thực thể, tác giả sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để hiệu chỉnh mô hình FEM, đảm bảo các ước lượng thu được đạt chuẩn vững và không chệch. Thời gian hoàn thiện nghiên cứu được tiến hành trong 5 tháng, từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê mô tả và hồi quy mô hình FEM hiệu chỉnh FGLS trên 130 quan sát đã lượng hóa rõ nét các yếu tố tác động đến nguồn thu ngân sách của 13 tỉnh ĐBSCL:

Thứ nhất, GDP bình quân đầu người là động lực tăng thu quan trọng hàng đầu và có mối quan hệ đồng biến với thu ngân sách. Trong giai đoạn 2005–2014, GDP bình quân đầu người toàn vùng đạt trung bình 21,44 triệu đồng/người/năm, có sự chênh lệch lớn giữa mức thấp nhất là 6,10 triệu đồng và mức cao nhất lên tới 74,00 triệu đồng. Khi năng suất lao động và thu nhập dân cư gia tăng, cơ sở tính thuế từ tiêu dùng và sản xuất kinh doanh được mở rộng đáng kể.

Thứ hai, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng thu ngân sách vượt trội. Toàn vùng có trung bình 1.839 doanh nghiệp hoạt động trên mỗi tỉnh, dao động từ mức thấp nhất là 373 doanh nghiệp đến cao nhất là 4.706 doanh nghiệp. Các khoản thu từ cộng đồng doanh nghiệp đóng góp tới 32,04% tổng thu ngân sách giai đoạn 2005–2009 và chiếm 28,10% giai đoạn 2010–2014.

Thứ ba, tỷ lệ thu chi ngân sách địa phương đạt trung bình 95,64% (thấp nhất 40% và cao nhất đạt 210%), có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê cao với số thu ngân sách. Điều này phản ánh địa phương nào có kỷ luật ngân sách tốt và tỷ lệ tự trang trải cao thì động lực khai thác các nguồn thu địa phương càng mạnh mẽ.

Thứ tư, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm đạt trung bình 56,08% (biến thiên từ 46,80% đến 63,60%), tạo nền tảng vững chắc cho nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và các khoản phí, lệ phí an sinh xã hội.

Thảo luận kết quả

Phân tích sâu về động thái biến động nguồn thu cho thấy sự tác động rõ nét của môi trường kinh tế vĩ mô. Giai đoạn 2005–2009, tốc độ tăng thu ngân sách bình quân toàn vùng đạt 19,46%/năm. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2010–2014, tốc độ này sụt giảm 4,37% xuống mức 15,09%/năm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và các chính sách miễn, giảm, giãn thuế hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ. Thu ngân sách nhà nước bình quân toàn vùng đạt 4.841,87 tỷ đồng/năm, nhưng khoảng cách phân hóa giữa các địa phương rất cao, với mức thấp nhất là 912,70 tỷ đồng và cao nhất đạt 15.562,50 tỷ đồng.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương thích với các kết luận thực nghiệm của Ghura (1998), Eltony (2002) và Võ Thành Vân (2010), khẳng định quy mô doanh nghiệp và thu nhập bình quân là hai trụ cột quyết định độ rộng của cơ sở thuế. Ngược lại, tỷ trọng ngành nông nghiệp tại ĐBSCL chiếm bình quân tới 41,97% GDP nhưng không tạo ra đóng góp tương xứng cho ngân sách do chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm khuyến khích nông dân. Nhằm tăng tính trực quan cho các báo cáo quản trị, dữ liệu nguồn thu và các biến số tác động có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện diễn biến thu qua các năm, kết hợp đồ thị đường xu hướng phát triển doanh nghiệp và bảng đối chiếu ma trận hệ số tương quan để hỗ trợ quá trình ra quyết định điều hành ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, tác giả đề xuất 4 nhóm khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường nguồn thu bền vững, hướng tới giảm tỷ lệ phụ thuộc ngân sách Trung ương từ mức 33,31% hiện tại xuống dưới 20%:

  1. Thúc đẩy phát triển số lượng và quy mô doanh nghiệp: Ủy ban nhân dân các tỉnh cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh và giảm chi phí không chính thức. Mục tiêu cụ thể là duy trì tốc độ phát triển số lượng doanh nghiệp đạt tối thiểu 12%/năm giai đoạn 2017–2020, nâng mức trung bình từ 1.839 doanh nghiệp lên trên 3.000 doanh nghiệp mỗi tỉnh vào năm 2025.
  2. Nâng cao thu nhập bình quân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Công Thương đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đặt mục tiêu đưa GDP bình quân đầu người toàn vùng từ mức 21,44 triệu đồng tăng lên trên 45 triệu đồng/người/năm trong lộ trình 5 năm tiếp theo, tạo dư địa tăng thuế gián thu.
  3. Hiện đại hóa công tác quản lý và chống thất thu thuế: Cục Thuế các tỉnh phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước số hóa quy trình thu nộp, thanh tra định kỳ các hoạt động kinh doanh bất động sản, khai thác tài nguyên và kinh doanh dịch vụ. Phấn đấu nâng tỷ lệ thu chi ngân sách địa phương đạt trên mức 100% vào năm 2022, đảm bảo cân đối thu chi vững chắc.
  4. Phát triển thị trường lao động và nâng cao tỷ lệ việc làm: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu của các khu công nghiệp, nâng tỷ lệ lao động có việc làm đạt trên 60% tổng dân số trong giai đoạn 2017–2025 nhằm tăng nguồn thu bền vững từ thuế thu nhập cá nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thuế địa phương: Lãnh đạo UBND, Sở Tài chính, Cục Thuế tại 13 tỉnh ĐBSCL có thể ứng dụng các hệ số tác động để xây dựng kế hoạch dự toán ngân sách trung hạn chính xác, định hình các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm mở rộng cơ sở thuế.
  2. Học viên, nghiên cứu sinh ngành Quản lý công và Tài chính - Ngân hàng: Đề tài là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình phân tích dữ liệu bảng với cỡ mẫu 130 quan sát, cung cấp phương pháp chi tiết khi chạy mô hình FEM/REM kết hợp hiệu chỉnh FGLS trên phần mềm Stata 13.
  3. Hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức xúc tiến đầu tư: Các tổ chức kinh tế có thể nắm bắt bức tranh toàn cảnh về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI trung bình đạt 59,23 điểm), cơ cấu kinh tế nông nghiệp 41,97% và quy mô thị trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp tại Tây Nam Bộ.
  4. Giảng viên và sinh viên các trường đại học khối ngành kinh tế: Công trình cung cấp hệ thống lý thuyết thực chứng phong phú và số liệu thực tế giai đoạn 2005–2014, làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Tài chính công, Quản lý kinh tế và Kinh tế lượng ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào có tác động cùng chiều mạnh nhất đến thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh ĐBSCL? GDP bình quân đầu người và số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn là hai nhân tố có tác động tích cực lớn nhất. Số liệu giai đoạn 2005–2014 chứng minh GDP bình quân đạt 21,44 triệu đồng và số doanh nghiệp trung bình 1.839 đơn vị đã tạo ra hơn 28% tổng thu ngân sách địa phương.

Vì sao tỷ trọng ngành nông nghiệp cao nhưng không đóng góp lớn vào số thu ngân sách? Dù nông nghiệp chiếm trung bình 41,97% GDP vùng và cung cấp 56% sản lượng lúa cả nước, chính sách an sinh xã hội hiện hành miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân khiến nguồn thu thuế trực tiếp từ ngành này bị hạn chế đáng kể.

Mô hình kinh tế lượng nào được luận văn lựa chọn là tối ưu nhất? Luận văn lựa chọn Mô hình tác động cố định (FEM) sau khi vượt qua các kiểm định F-test và Hausman test. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan chuỗi trên 130 mẫu quan sát, mô hình được hiệu chỉnh bằng phương pháp FGLS trên Stata 13.

Mức độ phụ thuộc của ngân sách ĐBSCL vào Trung ương trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu? Trong giai đoạn 2005–2014, ngân sách Trung ương phải bù đắp hụt chi cho 13 tỉnh ĐBSCL trung bình 33,31%/năm. Trong đó, tỷ lệ hỗ trợ giai đoạn 2005–2009 là 33,18%/năm và giai đoạn 2010–2014 tăng nhẹ lên mức 34,83%/năm do nhu cầu chi đầu tư hạ tầng tăng cao.

Chính sách ưu tiên hàng đầu để tăng thu ngân sách ĐBSCL trong tương lai là gì? Địa phương cần tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để nâng cao số lượng doanh nghiệp hoạt động, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm duy trì tỷ lệ lao động có việc làm trên 56,08%, tạo nguồn thu vững chắc từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định và lượng hóa chính xác tác động tích cực của GDP bình quân đầu người (21,44 triệu đồng) và số lượng doanh nghiệp (1.839 đơn vị) đến quy mô thu ngân sách nhà nước tại 13 tỉnh ĐBSCL.
  • Khẳng định vai trò quan trọng của tỷ lệ thu chi ngân sách (trung bình 95,64%) và tỷ lệ lao động có việc làm (56,08%) trong việc gia tăng khả năng tự cân đối tài khóa địa phương.
  • Đánh giá khách quan bức tranh tăng trưởng thu ngân sách vùng từ 24.128 tỷ đồng năm 2005 lên 96.715 tỷ đồng năm 2014, đồng thời chỉ rõ thách thức khi tỷ lệ trợ cấp từ Trung ương vẫn chiếm 33,31%.
  • Đóng góp khung giải pháp đồng bộ 4 nhóm chính sách với các mục tiêu định lượng cụ thể, tạo tiền đề để các tỉnh Tây Nam Bộ nâng cao tính tự chủ ngân sách trong giai đoạn 2016–2025.
  • Cung cấp mô hình ước lượng thực nghiệm chuẩn mực dạng bảng FEM/FGLS, làm tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao cho các nghiên cứu tài chính công tiếp theo.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng khoa học, giúp chính quyền các tỉnh ĐBSCL có định hướng rõ ràng trong quản lý tài chính địa phương. Để hiện thực hóa mục tiêu tự chủ tài khóa, các nhà quản lý công cần khẩn trương áp dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn điều hành ngay hôm nay.