CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KINH DOANH VÀNG 1.1 Vai trò của vàng trong đời sống kinh tế – xã hội Nhìn vào nhu cầu của con người đối với vàng, ta có thể thấy được giá trị của vàng ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống kinh tế – xã hội. Từ giá trị đơn thuần là một loại kim loại quý dùng trong sản xuất công nghiệp và chế tạo nữ trang cho đến giá trị tiền tệ dùng làm vật ngang giá chung và trở thành một loại tiền được lưu hành đầu tiên trong lịch sử phát triển của loài người. Trong lịch sử tiền tệ thế giới, vàng được coi là một loại tiền tệ đặc biệt hội đủ 5 chức năng của đồng tiền: Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ quốc tế. Theo chế độ bản vị Bretton Wood ra đời ngày 1/7/1944, chế độ bản vị vàng hối đoái được thiết lập, 1 ounce = 35 USD (1 ounce = 28,349 gram) tạo điều kiện cho đồng USD lên ngôi trở thành đồng tiền được chấp nhận trên toàn thế giới.
Đối với nền kinh tế: Mặc dù bị tước đi khả năng làm đơn vị tiền tệ, vàng vẫn hấp dẫn được mọi quốc gia khi mức dự trữ vàng của toàn thế giới gần đây lên đến 160 nghìn tấn. Các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới tăng cường giữ vàng trong danh mục đầu tư của mình để bảo toàn vốn hoặc đầu cơ tích trữ và mua đi bán lại. Đối với đời sống xã hội: Vàng là một kim loại không thể thiếu trong sản xuất máy tính, thiết bị liên lạc, đầu máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều sản phẩm khác. Đồng thời, vàng cũng được dùng trong nha khoa phục hồi cũng như nhiều tác dụng khác trong công nghiệp và y khoa trị liệu.
Đối với chính phủ: Hiện nay, các NHTW trên khắp thế giới dự trữ khoảng 130.000 tấn vàng và không ngừng ý định tăng lên về khối lượng. Hoa Kỳ có số vàng dự trữ cao nhất thế giới khoảng hơn 8.000 tấn, tổ chức IMF dự trữ hơn 3000 tấn, Trung Quốc hiện vươn lên vị trí thứ hai với ý định nâng mức dự trữ lên 4000 tấn vàng. Để đối phó với 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình trạng mất ổn định trong giá trị các đồng tiền và suy thoái kinh tế, các NHTW trên khắp thế giới đều muốn dự trữ vàng trong danh mục dự trữ của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị do làm phát và phá giá tiền tệ.2 Tình hình sản xuất, khai thác và tiêu thụ vàng trên thế giới và Việt Nam – Phân chia lại bản đồ khai thác và tiêu thụ 1.1 Tình hình khai thác và tiêu thụ trên thế giới: Năm 2008, Trung Quốc có thể vượt qua mặt Nam Phi trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Trong hơn 120 năm qua, Nam Phi luôn đứng đầu thế giới về sản lượng khai thác vàng nhưng trong 10 năm qua tốc độ đã giảm nhiều, từ chỗ chiếm 70% sản lượng thế giới năm 1970 xuống còn 20% năm 1997 và 11,8% năm 2006.
Không những vượt qua về sản lượng khai thác, Trung Quốc còn mới phát hiện thêm 5 mỏ vàng có trữ lượng đáng kể. Hiện trữ lượng vàng của Trung Quốc khoảng 15. Năm 2008, Trung Quốc có khả năng sản xuất được 300 tấn vàng, bốn tháng đầu năm sản lượng đã đạt 84,039 tấn. Với sản lượng vàng ngày càng tăng dần và công nghệ ngày càng tốt hơn, Trung Quốc sẽ vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia sản xuất vàng lớn nhất trên thế giới.
Sản lượng vàng của Trung Quốc đã tăng 34,84% trong 5 năm qua. Năm qua, sản lượng tiêu thụ ở Trung Quốc cũng tăng 23%, biến Trung Quốc thành thị trường tiêu thụ vàng thứ hai thế giới sau Ấn Độ. Sản lượng vàng tiêu thụ ở Ấn Độ giảm 50% trong khi Trung Quốc tăng 15% (112,1 tấn), Ai Cập là 15%, Nga 9% và đặc biệt tại Việt Nam với 71% (35 tấn). Giới khai thác và kinh doanh vàng hy vọng khi có thêm nguồn sản xuất sẽ làm giá vàng hạ và kéo nhu cầu tiêu thụ tăng trở lại.
Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới, khoảng 722 tấn/năm tăng 7% trong năm 2007, Mỹ đứng thứ 3 với 278 tấn (giảm 18%), thị trường Italia và Anh cũng sụt giảm, năm 2007 theo WGC cho thấy doanh số bán vàng trang sức của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục tăng 34% lên 302,2 tấn trở thành nước tiêu thụ đứng thứ 2 thế giới. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tình hình nhập khẩu – khai thác – tiêu thụ tại Việt Nam Việt Nam bắt đầu cho phép nhập khẩu vàng vào đầu những năm 1990. Đến năm 1997, do khan hiếm ngoại tệ, chính phủ cấm nhập khẩu vàng. Tới năm 2001, vàng mới tiếp tục được cho phép nhập khẩu trở lại.
Tuy nhiên, chính phủ chỉ cho phép nhập khẩu theo hạn ngạch do Ngân hàng Nhà nước quy định cho từng đầu mối nhập khẩu và theo từng năm. Năm 2008, Ngân hàng Nhà nước chỉ cấp phép cho nhập 73,5 tấn vàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá dầu thế giới tăng từng tuần, chứng khoán mất giá, giá USD thất thường và bất động sản bấp bênh, vàng trở thành phương tiện hiệu quả trong việc bảo lưu vốn và là kênh đầu tư hiệu quả. Vì vậy, lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam đã lên tới 43 tấn chỉ trong bốn tháng đầu năm 2008, bằng một nửa khối lượng nhập khẩu trong cả năm 2007, với trị giá ước tính khoảng 1,2 tỷ USD và được cho là có thể tăng lên 4 tỷ USD vào cuối năm nay.
Ngoài ra, mức nhập khẩu vàng khối, loại vàng dùng cho đầu tư, tăng hơn 110% so với năm 2007, đã khiến Việt Nam trở thành nước nhập khẩu vàng khối nhiều nhất thế giới, vượt cả Ấn Độ và Trung Quốc. Trong quý 1, Việt Nam nhập khẩu 40 tấn vàng, gấp 3 lần Ấn Độ, quốc gia hàng đầu về tiêu thụ vàng và đông dân hơn Việt Nam rất nhiều. Theo số liệu của hội đồng vàng thế giới, trong bảy tháng đầu năm 2008, Việt Nam đã nhập khẩu 62 tấn vàng, ước tính vào thời điểm mua sắm cao dịp cuối năm có thể nâng mức nhập khẩu cả năm lên khoảng 100 tấn, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay. Trung bình mỗi năm gần đây Việt Nam nhập khẩu 50-60 tấn vàng, cao nhất là 70-80 tấn, trong khi lượng vàng sa khoáng trong nước chỉ độ 2 tấn/năm.
Theo ghi nhận của văn phòng đại diện Hội đồng vàng thế giới tại Việt Nam, lượng tiêu thụ vàng miếng của Việt Nam hiện cao hơn Ấn Độ khoảng 15% (đến thời điểm trước tháng 7/2008), riêng sàn giao dịch vàng đang ở mức gấp 12 – 15 lần lượng vàng vật chất giao dịch bằng tiền mặt. Trong quý 1, do lo sợ tình hình kinh tế Việt Nam xấu, người dân và cả 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà đầu cơ đổ xô đi mua vàng mặc dù thời điểm đó giá vàng khá cao (18 – 19 triệu đồng/lượng). Khi vàng giảm dưới 18 triệu đồng lượng, lượng mua cũng tăng mạnh (27%) so với ngày trước đó nhưng sức mua quý 2 đã giảm 35%. Để giảm nhập siêu (vàng chiếm gần 2 tỷ USD), nhà nước tạm thời không cấp thêm quota nhập vàng.
Các nhà địa chất dự báo trữ lượng vàng nước ta còn khoảng 1000 đến 3000 tấn. Việt Nam cũng có nhiều mỏ quặng với nhiều hình thái và quy mô khác nhau có ở Ngân Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng, Thanh Hóa, Quảng Nam, Hòa Bình … tuy nhiên 95% lượng vàng tiêu thụ tại thị trường trong nước là được nhập khẩu. Do vậy, mọi biến động về giá vàng, tỷ giá, lãi suất và các đồng tiền chủ đạo trên thế giới đều gây ra những ảnh hưởng nhất thời đến thị trường trong nước nhất là trong tình hình nhạy cảm hiện nay khi vàng được xem là nơi trú ẩn của tài sản để chống lại lạm phát.3 Cách quy đổi giá vàng theo VNĐ: 1 lượng = 37,5 gram. 1 lượng = 1,20556 ounce Giá 1 lượng vàng = (Giá thế giới + Chi phí vận chuyển + Phí bảo hiểm)*(1+Thuế NK)*1,20556 *Tỷ giá + Phí gia công Chi phí vận chuyển ước tính: 0,75 USD/ounce Phí bảo hiểm ước tính: 0,25 USD/ounce Thuế nhập khẩu vàng: 1% Phí gia công vàng miếng là 30.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các sàn giao dịch vàng hiện nay: Các thị trường vàng trên thế giới hiện nay hầu hết giao dịch nhiều loại hàng hóa khác nhau như dầu (thô, xăng, dầu cặn), nông sản (đường, cà phê, cacao), các kim loại quý (vàng, bạc, bạch kim…) và các kim loại màu khác (nhôm, kẽm, thiếc, uranium…) được gọi là sàn giao dịch hàng hóa. Vì tại Việt Nam chưa có nhu cầu nhiều về các sản phẩm phái sinh về hàng hóa cũng như thiếu hành lang pháp lý cho việc mua bán các sản phẩm phái sinh nên hiện tại chỉ có sàn giao dịch vàng riêng lẻ (nếu bỏ qua sàn giao dịch cà phê ở DakLak). Sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (The Tokyo Commodity Exchange) Thành lập năm 1984, là sự kết hợp giữa Sàn giao dịch dệt may Tokyo, Sàn giao dịch cao su Tokyo và Sàn giao dịch vàng Tokyo. Sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) là một tổ chức đi tiên phong trong hoạt động hối đoái.
Tiếp theo là sự tham gia của thị trường nhôm và dầu năm 1997 và 1999 tạo ra một thị trường giao sau hoạt động đầy đủ. Tại TOCOM có 9 ngành công nghiệp hàng hóa đều là những ngành công nghiệp mạnh của nền kinh tế, để giao dịch giao sau và quyền chọn trong 4 thị trường khác nhau là kim loại quý, dầu, cao su và nhôm. Sàn giao dịch hàng hóa NewYork (NewYork Mercantile Exchange - NYMEX) Là sàn giao dịch hàng hóa giao sau lớn nhất thế giới, nơi diễn ra các giao dịch có giá trị hàng tỉ USD về năng lượng và kim loại. Giá cả niêm yết trên sàn là cơ sở để tính toán giá cả trên khắp thế giới.
Được điều hành bởi Ủy ban hàng hóa giao sau, một cơ quan độc lập của Chính phủ Hoa Kỳ. Sàn giao dịch hàng hóa Chicago (The Chicago Board of Trade – CBOT ) Được thành lập năm 1848, là 1 thị trường giao sau và quyền chọn hối đoái dẫn đầu.600 thành viên, cổ đông giao dịch với hơn 50 sản phẩm giao sau và quyền chọn khác nhau. Trước đây, CBOT chỉ giao dịch các hàng hóa nông nghiệp như ngũ cốc, lúa mì, yến mạch… Năm 1982, thị trường quyền chọn và giao sau vàng được thành lập, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.