đặt vấn đề, một cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức, hoặc/và một cách xử lý nào đó.” Một điểm thú vị là mặc dù lý thuyết đóng khung được áp dụng trước hết cho văn bản viết, việc áp dụng lý thuyết này vào phân tích các thông điệp là khá hữu dụng, Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thé áp dụng lý thuyết đóng khung dé phân tích những đặc trưng loại hình thông điệp. Theo Hai tác gia Jeff Ansell và Jeffrey Leeson trong cu6n “Khi bạn trở thành tâm điểm của Truyén thông, bí quyết kiểm soát truyén thông” (2016), Nxb Thông 17 Tan, đã định nghĩa thông điệp dưới góc độ doanh nghiệp hoặc quan hệ công chúng: “7hồng điệp là một hình thức truyền thông có chủ đích dé đưa thông tin đã được trù tính đến với đối tượng khán giả định sẵn” [22. Các thông điệp này có thé dùng dé đưa van dé này vào đúng ngữ cảnh, tạo dựng sự nhận biết về thương hiệu, kiểm soát hình ảnh, tác động đến quan điểm hoặc phát triển quan hệ khách hàng. Theo Lý thuyết truyền thông nâng cao (do TS Phạm Hải Chung chủ biên), “Thông điệp” là: nội dung thông tin được trao đối chia sẻ từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Có thé bằng tín hiệu, mã số, lòi nói, cử chỉ, thái độ, chữ viết. hoặc bat cứ tín hiệu nào mà con người có thể hiểu được và trình bay một cách có ý nghĩa. Nói cách khác, thông điệp được diễn tả bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận có thé hiểu được. Tác giả Nguyễn Van Ding va Đỗ Thị Thu Hằng định nghĩa: “7hông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Thông điệp chính là những tâm tu, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - ky thuật. được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thong này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng dé chuyén tai thông điệp ” [6tr.
Như vậy, theo tác giả luận văn "Thông điệp” được đúc rút lại là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thé. Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác, hệ thống ký hiệu ấy phải được giải mã bởi đầu nhận, truyền tải đến người nhận thông tin hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức nhằm thu hút sự quan tâm, ủng hộ và hành động của người nhận trong hoàn cảnh cụ thê dé đạt được mục tiêu của chiến dich truyền thông. Quá trình xây dựng thông điệp bao gồm 2 giai đoạn khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nguồn phát phải xác định đúng nội 18 dung muốn truyền đạt dé tạo ra đáp ứng phản hồi thích hop từ người nhận.
Đây là ý tưởng thông điệp chủ định. Trong giai đoạn thứ hai cần phải xác định hình thức tốt nhất dé truyền đạt thông điệp chủ định. Hình thức này được gọi là mã hóa. Tùy theo điều kiện cụ thê và môi trường, thông điệp có đời sống riêng của nó, có quá trình phát sinh, phát triển và suy thoái.
Thông điệp được chuyên tải đến đối tượng tiếp nhận trong thời gian dài có thé giảm hoặc mất đi tính hấp dẫn. Sự thay đôi về xã hội cũng có thé làm cho thông điệp không còn phù hợp, do đó người làm truyền thông phải chú ý năm bắt sự chuyên biến xã hội, nhu cầu, tâm lý, tình cảm của đối tượng tiếp nhận đề “làm mới” thông điệp cả về nội dung và hình thức. Mô hình truyền thông Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các bảng, các biểu dé, lược dé, sơ đô, các hình tượng. được sử dụng dé quy những ý kiến phức tạp về cách biểu đạt mang tính chất đồ hoạ, từ đó cho phép dé nhận biết và nhận thức sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ khác nhau với một khái niệm rất phức tạp như truyền thông.
Về mô hình truyền thông, trên thế giới tồn tại nhiều mô hình truyền thông khác nhau. Tuy nhiên, trong Mô hình truyền thông 2 chiều của Shannon và Weaver năm 1948 ví trí của Thông điệp được sơ đồ hóa như sau: 19 Trong đó: Nguồn (hay gọi chủ thé truyền thông) là yếu tố mang thông tin tiềm năng và thường khởi xướng quá trình truyền thông. Nguồn phát là một người, một nhóm người hay tổ chức, mang nội dung thông tin (thông điệp) trao đổi (hoặc với mục đích lan truyền) với người khác hay nhóm xã hội khác. Có nguồn chính thức và phi chính thức.
Mã hóa: là quá trình biến suy nghĩ được truyền tải trong thông điệp. Chủ thể truyền thông xác định cách người nhận sẽ nhận thông điệp và điều chỉnh sao cho thông điệp được hiểu theo cách họ muốn. Thông điệp (nội dung): Là nội dung thông tin được trao đôi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật.
được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chi biéu đạt,. của con người được sử dụng để chuyên tải thông điệp.
Thông điệp truyền thông là tập hợp ký hiệu có cấu trúc chặt chẽ, có nghĩa, được dùng dé trao đổi giữa chủ thé và công chúng nhóm đối tượng truyền thông. Kênh truyền thông (phương tiện truyền thông): Là các phương tiện, con đường, cách thức chuyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, truyền thông đa phương tiện. Có rất nhiều phương tiện truyền thông được sử dụng hiện nay, như: báo in, truyền hình, radio, internet và mạng xã hội.
Kỹ thuật và công nghệ số đang tạo ra những khả năng vô tận cho quá trình truyền dẫn, quảng bá, giao tiếp và sáng tạo thông điệp truyền thông. 20 Giải mã: người tiếp nhận thông điệp và giải thích thông điệp cho chính họ. Cách giải mã thông điệp có thể khác nhau ở mỗi người nhận thông điệp, hay nói cách khác, một thông điệp có thể được giải mã khác nhau ở những người nhận khác nhau. Người nhận (công chúng): là độc giả, khán thính giả đại chúng, là đối tượng các phương tiện truyền thông muốn tiếp cận.
Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông, cũng là khâu cuối cùng quyết định kết quả, biến mục đích truyền thông từ khả năng thành hiện thực. Đó là việc tạo ra thay đôi về nhận thức, dẫn tới thay đổi về hành vi của người tiếp nhận, phù hợp với qui mô, tính chat và khuynh hướng của thông điệp. Phản hồi/Hiệu lực, hiệu quả: Là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ công chúng/nhóm đối tượng tác động trở về nguồn phát. Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả của họat động truyền thông.
Trong một số trường hợp, mạch phản hệ: băng không hoặc không đáng kể. Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạo được sự quan tâm của công chúng nhóm đối tượng truyền thông. Dong phản hồi càng lớn về quy mô và cường độ thì năng lực, hiệu lực truyền thông càng cao và càng dé tạo hiệu quả truyền thông cao Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch khó được dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ôn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật.) dẫn đến tinh trạng thông điệp, thông tin bị tiếp nhận sai lệch. Mô hình này cho thay, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (chủ thé truyền thông), sau khi thông điệp được mã hóa sẽ truyền tải các kênh truyền thông, thông điệp sẽ được giải mã và đến với người tiếp nhận thông điệp.
Ngoài những đặc điểm chung kế thừa từ mô hình truyền thông của Lasswell, mô hình Shannon và Weaver còn bố sung thêm yếu tố “nhiễu” có thé gây ảnh hưởng tới tính rõ rang, sự chính xác của thông điệp hay làm giảm khả năng tiếp nhận thông điệp của người nhận. Ở mô hình hai chiều, công chúng tiếp nhận đóng vai trò quyết định trong quá trình truyền thông. Sự quyết định của công chúng không chỉ dừng ở 21 việc tự do lựa chọn kênh truyền thông, tự do đón nhận thông điệp, mà công chúng còn tham gia trực tiếp (nếu họ muốn), trở thành một yếu tố trong mô hình truyền thông. Lúc này, bản thân công chúng trở thành một nguồn phát thông điệp.
Trong mô hình này, sự áp đặt chủ quan của chủ thể thông điệp có ý nghĩa rất ít đối với quy trình truyền thông. Với mô hình truyền thông đã trình bày, tác giả luận văn xác định vị trí của nghiên cứu trong mô hình này chi tập trung nghiên cứu yếu tố thông điệp (phân tích thông điệp về văn hóa đọc). Phân loại và hình thúc thể hiện thông điệp: Trong cuốn “Khi bạn trở thành tâm điểm của truyén thông, bí quyết kiểm soát truyền thông”, của hai tác giả Jeff Ansell và Jeffrey Leeson đã phân loại thông điệp truyền thông gồm các loại sau: Thông điệp tin trong cuộc: Thông điệp này phải được đưa ra từ góc nhìn của bạn chứ không phải của người khác; đồng thời, thông điệp phải đi vào trọng tâm của sự việc và cung cấp được thông tin, góc nhìn hoặc cảm xúc mà bạn muốn người ta có được khi nghe tin hoặc xem tin. Thông điệp lược thuật: Các bản tin thường trích dẫn khoảng 3 câu nói từ người phát ngôn; thông điệp thường cô đọng nhưng thê hiện được các ý chính của su việc.
Thông điệp đối tác: Thông điệp này xác định được tác động của bản tin đối với người khác, cụ thê là thông tin này có ý nghĩa, thú vị và hữu ích ra sao? Thông điệp đó tác động đến cuộc sống người khác như thế nào. Thông điệp dữ liệu: Thông điệp này là những con số, dit liệu thống kê, ngày tháng và tỉ lệ phần trăm. Dữ liệu có tác dụng thuyết phục mọi người nhìn một van dé cu thé theo góc độc khác; nhìn nhận một vấn đề chính xác, không thiên vi.