PHẦN MỞ ĐẦU 1. Vấn đề nghiên cứu Nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng không chỉ riêng ở Châu Âu, Nhật Bản mà các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng phải đối diện, trong đó có Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã cố gắng để cân bằng việc sử dụng nợ công giữa các khoản nợ trong và ngoài nước, sự lựa chọn chi phí vay vốn thấp nhất (lãi suất thấp và thời gian trả nợ dài) được chính phủ xem xét khi áp dụng vay từ các chủ nợ để giảm thiểu việc trả nợ trong thời gian dài. Tuy nhiên, nợ công đang đe dọa đến đà phục hồi và sự ổn định của nền kinh tế thế giới, viễn cảnh của cuộc tái suy thoái toàn cầu đang được đặt ra.
Trong thời gian tới, do yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế, nợ công được dự báo sẽ nâng lên cao hơn mức hiện tại. Khi chính phủ Việt Nam lựa chọn giải pháp vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách và đáp ứng nhu cầu chi tiêu công trong khi điều kiện vay nợ trong nước bị thu hẹp do kinh tế đang gặp khó khăn, nhiều khả năng phần nợ nước ngoài sẽ tăng lên. Theo thông tin từ Bộ Tài chính thì điều kiện cho vay nợ của các chủ nợ ngày càng ngặt nghèo hơn: lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đang có xu hướng tăng lên. Nhiều đối tác đã chuyển từ quan hệ cho Việt Nam vay ODA sang hình thức ít ưu đãi hơn, kể từ sau khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình.
Bên cạnh đó, uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng do một số bất ổn của kinh tế vĩ mô (từ BB+ xuống còn BB). Với cơ cấu nợ công của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngoài nhiều mà hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu về mức ngưỡng nợ công vẫn nằm trong ngưỡng an toàn và vẫn bền vững như của tác giả Sử Đình Thành (2011) của tác giả Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009). Câu hỏi đặt ra, với ngưỡng an toàn đó thì nợ nước ngoài có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam? Đó là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” 2 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
Từ đó tác giả rút ra các nhận xét, đóng góp và gợi ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Nợ nước ngoài của Việt Nam Nợ nước ngoài so với xuất khẩu của Việt Nam Tỷ giá hối đoái của Việt Nam Lạm phát của Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chủ yếu về vay nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, nợ nước ngoài so với xuất khẩu, tỷ giá hối đoái, lạm phát của Việt Nam. Số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2011. - Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp như: phân tích định lượng, thống kê và mô tả. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành kiểm định mối quan hệ của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, qua đó đánh giá mức độ tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế.
- Dữ liệu Nguồn dữ liệu thu thập từ Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, và các trang thông tin điện tử - Kết cấu của luận văn gồm 5 phần: Phần 1: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế trên thế giới Phần 2: Phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu Phần 3: Kết quả nghiên cứu 3 Phần 4: Đóng góp và gợi ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam. 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế Lý thuyết “Debt Overhang” Krugman (1998) định nghĩa “Debt Overhang” là tình trạng trong đó số tiền dự kiến chi trả nợ nước ngoài sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết “Debt Overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ (dịch vụ nợ) sẽ kìm hãm đầu tư trong nước từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng Đường cong Laffter nợ Lập luận của lý thuyết “Debt Overhang” có thể được xem xét qua đường cong Laffter nợ.1: Đồ thị Đường cong Laffter nợ Nguồn: Catherine Pattillo, Hélène Poirson and Luca Ricci (2002) “External Debt and Growth” 5 Đường cong Laffter nợ cho thấy tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm khả năng trả nợ càng giảm. Trên phần dốc lên của đường cong giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên.
Trên phần dốc xuống của đường cong giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ càng giảm Mô hình Debt Overhang không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm tăng trưởng do góp phần giảm đầu tư. Do đó, ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng nhưng tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng. Từ đó, có thể kết luận rằng nợ và tăng trưởng có mối liên hệ phi tuyến Đường cong Laffter nợ đã cho thấy đến một lúc nào đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, điều hành chính sách vĩ mô. Đây là điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng.
Vì vậy đỉnh của đường cong Laffter nợ là mức độ nợ tối ưu mà một quốc gia có thể duy trì mà không phải lo ngại đến “Debt Overhang” 1.2 Những nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế - Đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Sudan của tác giả Abdelmawla and Mohamed (2005) 1 Mục tiêu của nghiên cứu thực nghiệm là đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Sudan trong giai đoạn 1978 - 2001. Nghiên cứu áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để đo lường tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Sudan Mô hình thực nghiệm cụ thể như sau: Gt = β1Dt + β2Xt + β3Pt-1 + Ut Trong đó: G: Tỉ lệ tăng trưởng GDP thực hằng năm D : Nợ nước ngoài (%GDP) 6 X : Xuất khẩu (%GDP P : Tỉ lệ lạm phát U : Phần dư Nghiên cứu kết luận rằng nợ nước ngoài và lạm phát có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi kim ngạch xuất khẩu có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài , xuất khẩu và lạm phát thay đổi 87% tốc độ tăng trưởng GDP thực trong giai đoạn 1978 – 2001. Trong số các biến này, biến lạm phát là biến quan trọng nhất.
Các kết quả của nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài vượt quá khả năng trả nợ ở Sudan Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nên đầu tư vào các dự án khả thi, phát triển kinh tế nhanh để duy trì nghĩa vụ nợ và duy trì đầu tư trong nước để thúc đẩy xuất khẩu, thông qua chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu cùng với sự cải thiện cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, giao thông vận tải và kỹ năng quản lý. -Tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế Nigeria và Nam Phi của tác giả Folorunso S. Ayadi (2008) 2 Tác giả ứng dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất và phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát để đo lường tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế của hai nền kinh tế Nigeria và Nam Phi, thu thập dữ liệu từ năm 1994 đến 2007. Nghiên cứu sử dụng biến tỷ lệ tăng trưởng GDP thực, nợ nước ngoài trên GDP, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu,1tỷ lệ tăng trưởng vốn, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực, tỷ lệ thanh toán nợ trên GDP thực.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nợ nước ngoài trên GDP, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu,2tỷ lệ tăng trưởng vốn, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực và tỷ lệ thanh 1 .Abdelmawla and Mohamed (2005) “The Impact of External Debts on Economic Growth: An Empirical Assessment of the Sudan: 1978-2001” Eastern Africa Social Science Research Review - Volume 21, Number 2, June 2005, pp. Ayadi University of Lagos, Felix O. Ayadi Texas Southern University (2008) “The impact of external debt on economic growth: a comparative study of Nigeria and South Africa” 7 toán nợ trên GDP thực thay đổi 42% tăng trưởng kinh tế ở Nigeria và 99% tăng trưởng kinh tế ở Nam Phi. Trong đó, xuất khẩu ít ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP ở Nigeria nhưng xuất khẩu có mối quan hệ không chỉ tích cực mà đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng ở Nam Phi bằng cách tăng nhân tố năng suất.
Nghiên cứu đưa ra kết quả tác động tiêu cực của nợ đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria và Nam Phi. Tuy nhiên, Nam Phi thực hiện tốt hơn so với Nigeria trong việc áp dụng các khoản vay bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng vì ở Nigeria nợ nước ngoài đóng góp tích cực vào tăng trưởng lên đến một điểm sau đó trở nên tiêu cực. Đầu tư và dịch vụ nợ đóng góp đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria và Nam Phi. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng Nigeria, Nam Phi và tất cả các quốc gia mắc nợ của thế giới khi vay nợ nước ngoài chỉ ưu tiên các dự án có tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế và quản lý nợ minh bạch đồng thời chính phủ cần phải cắt giảm chi tiêu để giảm thâm hụt ngân sách -Nghiên cứu vai trò của nợ trong nước trên thị trường mới nổi Indonesia của tác giả Muhammad Cholifihani3 (2009) Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, giữa năm 1997, nợ nước ngoài tăng đáng kể từ hơn 136 tỷ USD năm 1997 lên hơn 151 tỷ USD vào năm 1998, chủ yếu là do sự mất giá của đồng Rupiah.
Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP trong cuộc khủng hoảng châu Á (1998 - 1999) đạt được mức cao nhất, trung bình hơn 130% GDP.