phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm có 03 chương: Chƣơng 1 Tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chƣơng 2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt - Chi nhánh Tiền Giang. Chƣơng 3 Các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt - Chi nhánh Tiền Giang.10 Hạn chế nghiên cứu của đề tài - Hạn chế do yếu tố thời gian nghiên cứu ngắn và năng lực nghiên cứu có hạn của tác giả. - Đến nay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt - Chi nhánh Tiền Giang chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực quản trị rủi ro tín dụng nên những phân tích của đề tài có tính chủ quan của tác giả, chưa có cơ sở so sánh.
- Giải pháp kiến nghị của đề tài cũng chỉ mang tính chất tham khảo, khó mang tính khả thi cao khi áp dụng vào thực tiễn đơn vị do định hướng hoạt động, sự thay đổi của chính sách, quy trình nội bộ và sự biến động các yếu tố về môi trường và điều kiện kinh doanh luôn có sự thay đổi của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt nói chung và chi nhánh Tiền Giang nói riêng. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại - Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Như vậy thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay. Có hai cách để tiếp cận nguồn vốn tín dụng: Theo con đường tài chính trực tiếp và gián tiếp.
- Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. - Tín dụng ngân hàng Là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đơn vị, các tổ chức kinh tế và cá nhân được thực hiện dưới hình thức các ngân hàng, các tổ chức tín dụng sẽ đứng ra huy động vốn rồi sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đối với đối tượng nêu trên. Quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm 04 giai đoạn: Giai đoạn xét duyệt cấp tín dụng; giai đoạn phát tiền vay; giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn và giai đoạn thu hồi nợ.
Tín dụng có ba đặc trưng: Lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả.2 Vai trò của tín dụng - Một là, cung ứng vốn cho nền kinh tế: Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu và còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các tổ chức kinh tế. Nó là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. - Hai là, thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá: Tín dụng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, phát triển sản xuất. Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, tạo ra nhiều cơ hội, việc làm, thu hút nhiều lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
- Ba là, góp phần kiềm chế lạm phát: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn 8 định giá, làm giảm áp lực lạm phát. - Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập. Đất nước ta đã tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là cơ hội và cũng là thách thức to lớn đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng, một công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia ngày càng trở nên quan trọng để giúp Nhà nước thực hiện được mục tiêu của mình.3 Các loại hình chủ yếu của tín dụng ngân hàng - Cho vay: Ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền với mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất trong hoạt động tín dụng hiện nay của ngân hàng. Căn cứ vào các các chỉ tiêu khác nhau thì có các loại cho vay khác nhau: Căn cứ vào thời hạn cho vay (cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn); căn cứ vào loại tiền cho vay (cho vay đồng nội tệ; cho vay ngoại tệ); căn cứ vào đối tượng cho vay (cho vay các tổ chức; cho vay cá nhân); căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay (cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản). - Bảo lãnh: Ngân hàng cam kết bằng văn bản với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay. Bảo lãnh bao gồm các loại sau: Bảo lãnh vay vốn; bảo lãnh thanh toán; bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm; bảo lãnh hoàn thanh toán; các loại bảo lãnh khác. - Cho thuê tài chính: Là hình thức cho thuê tài sản, theo đó bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của bên cho thuê trong một thời gian nhất định. Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê.
Tuy nhiên, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng thương mại không được phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính, mà phải thành lập pháp nhân riêng (công ty cho thuê tài chính) để thực hiện nghiệp vụ này. - Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: Là việc ngân hàng mua thương 9 phiếu hoặc giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.2 Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng 1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. + Tổn thất có khả năng xảy ra đối với ngân hàng khi người đi vay không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng. + Khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
+ Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất và quan trọng nhất trong hoạt động ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của rủi ro ngân hàng. + Rủi ro tín dụng là loại rủi ro tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động ngân hàng. Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau: a Rủi ro giao dịch - Rủi ro lựa chọn: Quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chưa tốt: phân tích, đánh giá khách hàng thiếu bao quát, còn nhiều sơ hở; phân tích, lựa chọn phương án vay vốn của khách hàng còn lỏng lẻo, qua loa; lựa chọn phương án thu nợ thiếu cân nhắc có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro.
- Rủi ro đảm bảo: Là rủi ro đến các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản: điều khoản đảm bảo tín dụng thiếu chặt chẽ, rõ ràng; danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính 10 cụ thể; hình thức bảo đảm và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập; tỷ lệ đảm bảo tài sản còn thiếu dứt khoát, chưa rõ ràng. - Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan tới công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. b Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục: Là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan.
Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: Là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng a Nhóm nguyên nhân khách quan Nguyên nhân khách quan gây tác động và ảnh hưởng trên bình diện rộng bao gồm: do sự biến động của môi trường kinh tế (nội địa, toàn cầu); những bất cập trong cơ chế, chính sách của Nhà nước; hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa hoàn thiện; những nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh. b Nhóm nguyên nhân thuộc về người đi vay: Tình hình SXKD thiếu ổn định vững chắc; tình hình tài chính không tốt; công tác quản lý kinh doanh còn hạn chế; thái độ thiếu thiện chí và bất hợp tác của người đi vay; hiện tượng cố ý, cố tình lừa đảo; người đi vay sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay.