Luận án TS Dược học: Xu hướng nhập khẩu thuốc và yếu tố ảnh hưởng tại Việt Nam 2006-2014

Phân tích xu hướng nhập khẩu dược phẩm tại Việt Nam và các yếu tố kinh tế, chính sách ảnh hưởng đến hoạt động này trong những năm gần đây.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Tác giả

Chu Quốc Thịnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ dược học

2017

190
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc tại Việt Nam

Nhập khẩu thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn cung dược phẩm cho thị trường Việt Nam. Giai đoạn 2006-2014, ngành dược chứng kiến sự biến động mạnh về số lượng hoạt chất và giá trị nhập khẩu. Luận án của Chu Quốc Thịnh tại Trường Đại học Dược Hà Nội đã phân tích toàn diện xu hướng này. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Tổng cục Hải quan với hàng chục nghìn lượt nhập khẩu mỗi năm. Số hoạt chất nhập khẩu dao động từ 997 đến 1.247 trong suốt giai đoạn nghiên cứu. Các yếu tố kinh tế vĩ mô, chính sách quản lý dược và nhu cầu chăm sóc sức khỏe đều tác động đến xu hướng nhập khẩu. Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn thuốc nhập khẩu, đặc biệt là các hoạt chất sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ. Nghi cứu áp dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian để nhận diện xu hướng, chu kỳ và tính mùa vụ. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách quản lý dược phẩm hiệu quả hơn.

1.1. Tình hình nhập khẩu thuốc tại Việt Nam giai đoạn 2006 2014

Thị trường nhập khẩu thuốc tại Việt Nam giai đoạn 2006-2014 có nhiều biến động đáng chú ý. Số lượt nhập khẩu tăng từ khoảng 16.692 lượt vào năm 2006 với 997 hoạt chất. Con số này đạt đỉnh khoảng 1.247 hoạt chất vào năm 2009. Sau đó, số hoạt chất nhập khẩu có xu hướng giảm nhẹ và ổn định quanh mức 1.056-1.063 hoạt chất. Giá trị nhập khẩu chịu ảnh hưởng bởi biến động tỷ giá, giá nguyên liệu thế giới và chính sách thuế. Các loại thuốc nhập khẩu chủ yếu bao gồm biệt dược gốc, thuốc generic và nguyên liệu sản xuất.

1.2. Sự cần thiết của nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc

Nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc mang ý nghĩa thiết thực đối với ngành dược Việt Nam. Thị trường dược phẩm trong nước phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung. Việc hiểu rõ xu hướng giúp cơ quan quản lý dự báo nhu cầu, điều chỉnh chính sách phù hợp. Nghiên cứu cũng hỗ trợ doanh nghiệp dược hoạch định chiến lược kinh doanh và sản xuất. Ngoài ra, phân tích các yếu tố ảnh hưởng giúp đánh giá tác động của chính sách đến hoạt động nhập khẩu. Đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng chiến lược phát triển ngành dược bền vững.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhập khẩu thuốc

Nhiều yếu tố tác động đến xu hướng nhập khẩu thuốc tại Việt Nam. Yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ giá hối đoái và lạm phát. GDP tăng trưởng thúc đẩy nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo tăng nhập khẩu dược phẩm. Tỷ giá biến động ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành thuốc nhập khẩu. Chính sách quản lý dược cũng là yếu tố then chốt. Quy định về đăng ký thuốc, cấp phép nhập khẩu và kiểm soát chất lượng định hướng dòng chảy thương mại dược phẩm. Hiệp định thương mại tự do mở cửa thị trường, giảm thuế quan cho nhiều mặt hàng thuốc. Yếu tố nhân khẩu học như tốc độ già hóa dân số làm tăng nhu cầu thuốc điều trị bệnh mạn tính. Nhu cầu sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc tim mạch và thuốc điều trị ung thư ngày càng cao. Công nghiệp dược trong nước chưa đủ năng lực sản xuất một số nhóm thuốc đặc trị, buộc phải nhập khẩu.

2.1. Tác động của yếu tố kinh tế vĩ mô đến nhập khẩu dược phẩm

Kinh tế vĩ mô có mối liên hệ mật thiết với hoạt động nhập khẩu thuốc. Tốc độ tăng trưởng GDP cao thường đi kèm với tăng chi tiêu y tế và nhập khẩu dược phẩm. Tỷ giá hối đoái biến động ảnh hưởng lớn đến giá thuốc nhập khẩu, đặc biệt với thuốc có nguồn gốc từ châu Âu và Nhật Bản. Lạm phát làm tăng chi phí logistics và bảo quản thuốc. Thuế nhập khẩu và ưu đãi thuế theo các hiệp định thương mại cũng tác động đến giá thành sản phẩm. Ngân sách y tế quốc gia quyết định khả năng mua sắm thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh.

2.2. Ảnh hưởng của chính sách quản lý dược đến hoạt động nhập khẩu

Chính sách quản lý dược tác động trực tiếp đến quy mô và cơ cấu nhập khẩu thuốc. Quy định về đăng ký thuốc yêu cầu hồ sơ kỹ thuật chặt chẽ, ảnh hưởng đến thời gian và chi phí nhập khẩu. Chính sách ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước khuyến khích thay thế nhập khẩu. Quy định về đấu thầu thuốc tập trung định hướng lựa chọn nguồn cung. Tiêu chuẩn GMP bắt buộc đối với nhà sản xuất nước ngoài nâng cao chất lượng thuốc nhập khẩu. Các hiệp định thương mại tự do giúp giảm thuế quan, mở rộng nguồn cung thuốc từ nhiều quốc gia.

III. Phương pháp nghiên cứu và phân tích chuỗi thời gian

Luận án áp dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian để nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc. Thiết kế nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp từ Tổng cục Hải quan giai đoạn 2006-2014. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ các thuốc nhập khẩu trong giai đoạn này. Dữ liệu được thu thập qua mẫu trích xuất định dạng Excel, bao gồm tên thuốc, quy cách, số lượng, giá CIF và nước xuất xứ. Thông tin hoạt chất được bổ sung bằng cách tra cứu phần mềm quản lý đăng ký thuốc. Phương pháp phân tích chuỗi thời gian bao gồm xác định xu hướng, chu kỳ, đặc điểm mùa vụ và biến động ngẫu nhiên. Xu hướng được phân loại thành ổn định, tăng hoặc giảm dần. Chuỗi thời gian có thể tăng với tỷ lệ cố định hoặc biến động phức tạp hơn. Công cụ phân tích sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng để xử lý dữ liệu lớn. Kết quả phân tích cung cấp bức tranh toàn cảnh về diễn biến nhập khẩu thuốc qua các năm.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả xu hướng với số liệu thứ cấp từ hệ thống hải quan. Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ thuốc nhập khẩu vào Việt Nam từ ngày 1/1/2006 đến 31/12/2014. Địa điểm nghiên cứu tại thành phố Hà Nội, Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ mẫu trích xuất do Tổng cục Hải quan cung cấp. Các trường dữ liệu chính bao gồm tên thuốc, quy cách bào chế, đơn vị đóng gói, số lượng, giá CIF và mã hàng hóa HS. Phần mềm quản lý đăng ký thuốc và phần mềm quản lý giá thuốc trúng thầu được sử dụng để bổ sung thông tin hoạt chất.

3.2. Phương pháp phân tích chuỗi thời gian áp dụng trong nghiên cứu

Phân tích chuỗi thời gian là phương pháp chính được áp dụng trong nghiên cứu này. Chuỗi thời gian bao gồm bốn thành phần cấu tạo: xu hướng, chu kỳ, đặc điểm mùa vụ và biến động ngẫu nhiên. Xu hướng phản ánh sự biến đổi tổng thể của hiện tượng qua tất cả các năm quan sát. Chu kỳ mô tả sự thay đổi tăng giảm lặp đi lặp lại xung quanh xu hướng chung. Đặc điểm mùa vụ thể hiện sự biến động theo mùa trong năm. Biến động ngẫu nhiên là các yếu tố không thể dự báo trước. Phương pháp này giúp nhận diện quy luật vận động của nhập khẩu thuốc và dự báo xu hướng tương lai.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc và các yếu tố ảnh hưởng giai đoạn 2006-2014. Kết quả cho thấy nhập khẩu thuốc có xu hướng tăng về số hoạt chất trong giai đoạn đầu, sau đó ổn định. Số hoạt chất nhập khẩu đạt đỉnh 1.247 vào năm 2009 và giảm về mức 1.056 năm 2014. Các yếu tố kinh tế vĩ mô, chính sách quản lý dược và nhu cầu chăm sóc sức khỏe đều có ảnh hưởng đáng kể. Phương pháp phân tích chuỗi thời gian proved hiệu quả trong việc nhận diện xu hướng và dự báo. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách nhập khẩu thuốc. Ứng dụng thực tiễn bao gồm tối ưu hóa quy trình cấp phép, cân đối nguồn cung trong nước và nhập khẩu. Kết quả cũng hỗ trợ doanh nghiệp dược xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với xu hướng thị trường.

4.1. Các phát hiện chính về xu hướng nhập khẩu thuốc

Nghiên cứu ghi nhận nhiều phát hiện quan trọng về xu hướng nhập khẩu thuốc. Số hoạt chất nhập khẩu tăng mạnh từ 997 năm 2006 lên 1.247 năm 2009, phản ánh nhu cầu thị trường tăng cao. Sau giai đoạn tăng trưởng, số hoạt chất giảm và ổn định quanh mức 1.056-1.063 giai đoạn 2012-2014. Xu hướng này cho thấy thị trường dần bão hòa và chính sách quản lý phát huy hiệu quả. Nhập khẩu thuốc chịu ảnh hưởng phức tạp từ nhiều yếu tố kinh tế, chính sách và xã hội. Phương pháp chuỗi thời gian giúp nhận diện rõ ràng các thành phần cấu tạo của xu hướng nhập khẩu.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong quản lý dược phẩm

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thiết thực trong quản lý dược phẩm. Cơ quan quản lý có thể sử dụng mô hình dự báo để ước tính nhu cầu nhập khẩu thuốc từng năm. Thông tin về xu hướng giúp cân đối nguồn cung giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu. Phát hiện về yếu tố ảnh hưởng hỗ trợ điều chỉnh chính sách thuế, quy định đăng ký thuốc phù hợp. Doanh nghiệp dược áp dụng kết quả để xây dựng kế hoạch nhập khẩu và kinh doanh hiệu quả. Nghi cứu cũng gợi ý hướng phát triển công nghiệp dược nội địa, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu thuốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, nhu cầu sử dụng thuốc của Việt Nam ngày càng tăng cao, tiền thuốc bình quân đầu người tăng gần 6 lần sau 15 năm từ năm 2000 đến năm 2014 [27]. Mặc dù ngành công nghiệp dược Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng: trong năm 2014, xét về mặt số lượng thuốc, Việt Nam đang có thị phần thuốc sản xuất trong nước cao nhất (74%) so sánh với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia (45%), Thái Lan (72%), Indonesia (70%), Philippin (57%) [114]. Tuy nhiên, xét về giá trị, thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 45% trong tổng chi phí thuốc và đang có xu hướng bị thay thế bởi thuốc nhập khẩu do năng lực cạnh tranh kém, thể hiện sự trùng lắp về dạng bào chế và các nhóm thuốc, không tận dụng hết năng lực sản xuất của các nhà máy [21] [6]. Như vậy, cùng với sự gia tăng về nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Việt Nam trong khi ngành dược trong nước vẫn có nhiều bất cập, sự phụ thuộc của ngành Dược vào thuốc nhập khẩu là điều tất yếu và là một trong những nguyên nhân khiến cho chi phí tiền thuốc bình quân trên đầu người trong tổng chi y tế của Việt Nam năm 2016 ở mức cao gần 2 lần so với trung bình của các quốc gia Châu Á và cao trên 3 lần so với trung bình của các quốc gia châu Âu [85].

Để hướng tới việc giảm gánh nặng chi tiêu cho y tế, trong đó có chi tiêu cho thuốc như số liệu minh họa nói trên, Bộ Y tế luôn luôn nhấn mạnh mục đích của việc nhập khẩu là nhập khẩu bổ sung các thuốc trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu điều trị (nhập khẩu bổ sung) và nhập khẩu thay thế các thuốc sản xuất trong nước không có lợi bằng nhập khẩu (nhập khẩu thay thế) [8] [21]. Để đạt được mục tiêu này, cần phải có các bằng chứng rõ ràng để hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chính sách nhằm điều tiết hoạt động nhập khẩu thuốc. 1 Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra mục tiêu cụ thể cho lộ trình phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2030 “thuốc sản xuất trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng, sản xuất được thuốc chuyên khoa đặc trị, chủ động sản xuất vắc xin, sinh phẩm cho phòng chống dịch bệnh, sản xuất được nguyên liệu làm thuốc” là “đến năm 2020, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm” [54], trong khi tại thời điểm năm 2014, thuốc trong nước mới đáp ứng được gần 50% nhu cầu tiêu thụ. Để có thể đạt được mục tiêu cụ thể mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành Y tế nói chung và ngành Dược nói riêng, rõ ràng cần phải có những thông tin cập nhật về xu hướng nhập khẩu thuốc theo thời gian cũng như chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng nhập khẩu này.

Mặt khác, trong khi các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển như Hà Lan, Đức đã sử dụng các mô hình kinh tế y tế nhằm dự đoán chi tiêu y tế nói riêng và chi tiêu dành cho thuốc nói chung dựa trên các yếu tố liên quan về dân số, kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, gánh nặng bệnh tật và đã chứng minh được hiệu quả của việc áp dụng các mô hình này trong việc tiết kiệm chi phí [117], [119] thì vấn đề này tại Việt Nam vẫn chưa được chú trọng. Với các lý do trên, tác giả đã triển khai đề tài “Nghiên cứu xu hướng nhập khẩu thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng giai đoạn 2006-2014” với các mục tiêu chính như sau: 1.  Phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc vào Việt Nam giai đoạn 2006-2014.  Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng nhập khẩu thuốc vào Việt Nam giai đoạn 2006-2014.

Từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm quản lý tốt hơn việc nhập khẩu thuốc và góp phần nâng cao việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thuốc của ngành công nghiệp dược Việt Nam. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu - Thuốc: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc hoá dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [43]. - Nguyên liệu làm thuốc: là thành phần tham gia vào cấu tạo của thuốc bao gồm dược chất, dược liệu, tá dược, vỏ nang được sử dụng trong quá trình sản xuất thuốc [43]. - Thuốc generic: là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [43].

- Biệt dược gốc: là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [43]. - Thuốc mang tên gốc: Thuốc được đặt tên với tên gốc hoặc tên chung quốc tế. - Thuốc mang tên thương mại (biệt dược): Thuốc được đặt tên với tên khác với tên gốc hoặc tên chung quốc tế [26]. - Thuốc thiết yếu: là thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của đa số nhân dân thuộc Danh mục thuốc thiết yếu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [43].

- Nhập khẩu: là việc mua bán và trao đổi hàng hoá dịch vụ của nước này với nước khác, trong giao dịch dùng ngoại tệ của một nước hay một ngoại tệ mạnh trên thế giới để trao đổi [31]. - Kim ngạch nhập khẩu (KNNK): là tổng giá trị nhập khẩu của tất cả các (hoặc một) hàng hoá nhập khẩu vào quốc gia (hoặc một doanh nghiệp) trong một thời gian nhất định, qui đổi đồng nhất ra một loại đơn vị tiền tệ nhất định. Trong nghiên cứu này, KNNK là tổng giá trị của tất cả (hoặc một) thuốc nhập khẩu vào Việt Nam trong thời gian nhất định, qui đổi ra đô la Mỹ (USD). 3 - Liều trung bình sử dụng hàng ngày hay còn gọi liều hàng ngày (Defined Daily Dose- DDD): là liều tổng cộng trung bình của một thuốc dùng cho một ngày cho một chỉ định ở người trưởng thành.

DDD là một đơn vị đo lường kỹ thuật về mức độ (lượng) sử dụng thuốc, thường được sử dụng trong các nghiên cứu về tiêu thụ thuốc [127]. - Liều hàng ngày sử dụng cho 1000 dân (Defined Daily Doses per 1000 population- DID): Là liều được tính toán cho 1000 dân mỗi ngày. Chỉ số DID loại bỏ yếu tố dân số và đưa về mặt bằng chung để so sánh mức độ (số lượng) sử dụng thuốc giữa các quốc gia [127]. - Mã ATC: Từ năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu – Điều trị - Hoá học (Anatomical Therapeutic Chemical Classification – Gọi tắt là hệ thống phân loại theo mã ATC) cho các thuốc đã được WHO công nhận và khuyến khích các nước trên thế giới sử dụng.

Trong hệ thống phân loại theo mã ATC, thuốc được phân loại thành 5 bậc [128]: + Bậc 1: Được biểu thị bằng 1 chữ cái (A-V), thể hiện nhóm cơ quan giải phẫu mà thuốc tác động; + Bậc 2: Được biểu thị bằng 2 số, thể hiện nhóm điều trị chính của thuốc; + Bậc 3: Được biểu thị bằng 1 chữ cái, thể hiện phân nhóm dược lý/điều trị của thuốc; + Bậc 4: Được biểu thị bằng 1 chữ cái, thể hiện phân nhóm hoá học/điều trị/dược lý của thuốc; + Bậc 5: Được biểu thị bằng 2 số, thể hiện chất hoá học của thuốc. Thực trạng nhập khẩu thuốc tại Việt Nam 1. Sự cần thiết việc nhập khẩu thuốc tại Việt Nam Theo dữ liệu của Cục Quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người (thể hiện nhu cầu tiêu thụ thuốc) của Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây. Tiền thuốc bình quân đầu người tăng 6 lần sau 15 năm từ 5,40 USD/người năm 2006 lên 32,22 USD/người năm 2014 [27].

4 40 34,48 35 USD/người. Tiền thuốc bình quân đầu người giai đoạn 2000-2014 Nguồn: Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế (2015) Trước nhu cầu sử dụng thuốc của người dân ngày càng tăng đi đôi với nhu cầu tiếp cận với các thuốc chất lượng cao, đòi hỏi ngành dược Việt nam phải không ngừng phát triển về qui mô và chất lượng để thực hiện một trong mục tiêu của chính sách thuốc quốc gia “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý” [54]. Theo số liệu của Tổ chức Khoa học Thông tin Y tế (IMS), xét về mặt số lượng, Việt Nam hiện đang có thị phần thuốc sản xuất trong nước cao nhất (74%) nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, cụ thể: Malaysia (45%), Thái Lan (72%), Indonesia (70%), Philippin (57%) [114]. Tuy nhiên, xét về mặt giá trị, tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước thấp hơn so với thuốc nhập khẩu và đang có xu hướng bị thay thế bởi thuốc nhập khẩu.

Cụ thể: Nếu như trong giai đoạn 2001-2008, mức độ đáp ứng nhu cầu của thuốc sản xuất trong nước tăng nhanh (tăng từ 36,10% lên đến trên 50% tính theo giá trị) thì bước sang năm 2008, tỷ trọng giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước so với tổng nhu cầu sử dụng thuốc đã có xu hướng giảm (từ 50,18% năm 2008 xuống 44,55% năm 2014) (Hình 1. Một số doanh nghiệp sản xuất dược phẩm đang xu hướng chuyển đổi sang lĩnh vực khác như sản xuất thực phẩm chức năng, thậm chí có nguy cơ phá sản do không cạnh tranh được với thuốc nhập khẩu [14]. Tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước giai đoạn 2001-2014 Nguồn: Cục quản lý Dược – Bộ Y tế (2012) Mặt khác, ngành công nghiệp dược trong nước hiện tại đang thể hiện sự trùng lắp về dạng bào chế và nhóm thuốc: - Trùng lắp về dạng bào chế: Theo số liệu thống kê 529 dây chuyền sản xuất thuốc hóa dược của 159 nhà máy sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) tính đến 31/8/2016, cơ cấu các dây chuyền thuốc sản xuất trong nước trùng lắp và chưa hợp lý với 44,52% dây chuyền thuốc viên; 13,29% dây chuyền thuốc kem, gel, mỡ; 19,03% dây chuyền nước uống và dùng ngoài.00 18,55 Số  lượng Tỷ  trọng 100 18.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ