chương 1 tổng quan, chương 2 phương pháp và số liệu, chương 3 trình bày về các kết quả và thảo luận, sau đó là kết luận và tài liệu tham khảo. TỔNG QUAN VỀ ĐIỆN DÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU Trước khi điện được phát hiện vào đầu những năm 1700, con người không biết rằng khí quyển của trái đất chứa đầy các điện tích, trong cơn dông chứa đầy điện tích và sét là một dạng điện. Một số nền văn minh cổ đại cho rằng sấm sét là do các vị thần tạo ra: Sấm sét được đánh ra từ chiếc búa của Thor trong thần thoại Bắc Âu, bị thần Zeus ném xuống trong thần thoại Hy Lạp và được cai quản bởi một tập hợp các vị thần trong thần thoại Trung Quốc.
Khi con người bắt đầu nghiên cứu triết học tự nhiên, con người đã cố gắng giải thích một cách hợp lý, nhà triết học Aristotle cho rằng mây dông gây sấm và chớp là do tương tác của luồng khí ẩm và khô: Khi các đám mây ngưng tụ và lạnh đi, luồng khí khô bị đẩy ra ngoài một cách mạnh mẽ và đập vào các đám mây khác. Sấm là âm thanh của những đám mây bị đánh, và sét là một cơn gió cháy được tạo ra do tác động của quá trình không khí khô thổi trên các đám mây. Vào những năm 1600, Descartes cho rằng sấm sét là do sự cộng hưởng của không khí giữa các đám mây khi một đám mây va chạm với một đám mây khác. Khi các đặc tính điện của vật chất lần đầu tiên được khám phá, một số nhà khoa học nhận thấy rằng âm thanh và sự xuất hiện tia lửa giống như sấm và ánh sáng.
Theo đó, các nhà khoa học cho rằng cơn dông bằng cách nào đó đã tạo ra điện. Benjamin Franklin đã thiết kế các thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết này, Franklin đã gợi ý trong một bài báo rằng điện có thể được tạo ra từ một đám mây bằng một cột kim loại cao. Nếu cực được cách điện với mặt đất và một người quan sát đưa một dây nối đất đến gần cột, thì một tia lửa sẽ xuất hiện từ thanh kim loại sang dây khi có một đám mây nhiễm điện ở trên đầu. Sau khi các bài báo của Franklin được viết và xuất bản vào năm 1751, hoàng gia Pháp đã bị thu hút và thử nghiệm một số thí nghiệm ông đã mô tả.
D’Alibard đã xây dựng lại thí nghiệm trên xem các đám mây có bị nhiễm điện hay không, vào ngày 10/5/1752, ông đã quan sát thấy tia lửa bắn ra từ cột điện khi có một cơn mây dông gần đó. Các nhà khoa học khác tiếp tục các thí nghiệm này với các cột kim loại cách nhiệt, diều và bóng bay. Một năm sau thí nghiệm của D’Alibard, Richman một nhà khoa học ở Nga bị chết bởi sét đánh vào cột điện mà anh ta đang quan sát. Vào tháng 9 năm 1752, Franklin 5 đã dựng một cột thu lôi dài 3 m phía trên ngôi nhà của mình, chạy dây nối đất qua giếng, dây nối đất cách cột thu lôi 15 cm, đặt một quả cầu kim loại treo lơ lửng ở giữa giống con lắc đơn, quả cầu sẽ lắc lư qua lại và đập vào vào hai đầu nối khi một đám mây nhiễm điện bay qua đầu.
Bằng cách so sánh điện tích trên dây dẫn từ cột thu lôi với một điện tích dương đã biết, Franklin xác định rằng đáy của đám mây dông thường là âm. Cũng vào năm 1752, nhà khoa học người Pháp Lemonnier đã phát hiện ra hiện tượng nhiễm điện yếu trong khí quyển khi không có mây và xác định cường độ điện thời tiết tốt thay đổi từ đêm sang ngày. Cực của điện tích trong khí quyển là dương trong thời tiết đẹp và nó đảo ngược thành cực âm khi có cơn dông xuất hiện, phù hợp với quan sát của Franklin [15]. Có rất ít tiến bộ trong việc tìm hiểu về những hiện tượng này trong suốt 100 năm tiếp theo, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong hiểu biết của con người về điện trường và từ trường.
Những khám phá mới về đặc tính điện trong mây dông và điện khí hóa trong thời tiết phải chờ đợi sự phát triển của các thiết bị điện tử để thực hiện các phép đo. Sự phát triển thiết bị đo phải đáp ứng được các tiêu chí khó khăn do hiện tượng dông sét gây ra bao gồm các vấn đề khó tiếp cận các khu vực quan sát, môi trường quan sát làm hỏng các thiết bị tại chỗ, không thể lấy mẫu gần tia sét. CƠ BẢN VỀ DÔNG Dông (hay dông sét) là hiện tượng thời tiết kèm theo sét xảy ra. Cơn dông được hình thành khi có khối không khí nóng ẩm chuyển động thăng.
Cơn dông có thể kéo dài từ 30 phút đến 12 tiếng và có thể trải rộng từ vài chục đến hàng trăm kilomet. Sét là hiện tượng phóng điện trong khí quyển xảy ra trong cơn dông. Chúng có thể xảy ra trong một đám mây giữa các vùng điện tích trái dấu, xảy ra giữa các đám mây với nhau hoặc giữa mây với đất. Vào một thời điểm bất kỳ trên Trái đất có khoảng 2000 cơn dông đang hoạt động.
Có những nơi rất mạnh như một số khu vực ở Châu Phi có tới 200 ngày dông. Về cơ bản những nơi càng nóng, càng ẩm thì càng nhiều dông sét. Thêm vào đó nhiệt độ không khí phải giảm theo độ cao theo cách để cho không khí nóng có thể bốc lên cao. Theo thống kê ước tính trên Trái Đất của chúng ta cứ mỗi giây có 6 chừng 30-100 cú sét đánh (trong mây và xuống đất).
Một ngày có khoảng 9 triệu cú sét đánh trên thế giới. Một năm trung bình có khoảng 3 tỷ cú sét đánh. Ở khu vực nhiệt đới, chỉ có khoảng 10-20% đánh xuống đất, phần còn lại là sét trong mây. Khu vực ôn đới có khoảng 50% sét đánh xuống đất so với tổng số sét.
Một cơn dông bình thường kéo dài 4 tiếng có thể có 10 000 cú phóng điện trong đó có 1000-2000 phóng điện xuống đất. Ngoài tác dụng tạo ra phân nitrogen có lợi cho cây trồng, sét là hiểm hoạ gây thiệt hại về người và tài sản. Hàng năm trên thế giới theo thống kê có khoảng 5000 người bị sét đánh. Từ khoảng hơn 50 năm trở lại đây, tại các nước phát triển ở châu Âu và châu Mỹ, do nhu cầu ứng dụng thực tế, việc nghiên cứu dông sét được phát triển mạnh mẽ.
Người ta đã tiến hành thu thập số liệu về dông sét trong nhiều năm nhằm phân vùng hoạt động dông, đánh giá mật độ sét, cũng như các thông số của chúng và từ đó đề xuất các biện pháp chống sét, cụ thể như cho các đường dây tải điện, các công trình công nghiệp quan trọng, các sân bay, kho xăng, bến cảng, bãi phóng tên lửa và tàu vũ trụ,. Quy mô của cơn dông Người ta thường phân loại dông theo những cách khác nhau, một trong những cách đó là phân loại theo quy mô. Theo cách này, người ta phân biệt hai loại dông chính: dông hệ thống và dông không hệ thống. Dông hệ thống là dông xuất hiện với số lượng lớn những cơn dông xảy ra trên một diện rộng và có thể phân tán hay tập trung nhưng điều cơ bản là chúng gắn liền với một hệ thống thời tiết hay một cơ cấu hoàn lưu bất ổn định có quy mô hàng trăm kilomet.
Chẳng hạn: • Các khối hoặc các đám mây dông tách biệt xuất hiện rải rác trên một vùng rộng lớn ở khu vực front, trong vùng xoáy thuận, ở khu vực trước rãnh lạnh trên cao, dọc theo rãnh gió mùa hay dải hội tụ nhiệt đới; • Các khối mây dông liên kết với nhau thành dải mây dông đồ sộ, kéo dài hàng trăm kilomet được gọi là các “đường tố” và thường xuất hiện trước các front lạnh mạnh, đi trước các cơn bão lớn hoặc đi cùng với các đường bất liên tục của gió (đường đứt); 7 Hình 1. Dông hệ thống hình thành khi hai khối không khí nóng lạnh giao tranh [12] 2. Dông không hệ thống thường xuất hiện với số lượng ít (một khối mây dông hoặc một tháp mây dông) không liên quan với các hệ thống thời tiết hay các cơ cấu hoàn lưu bất ổn định quy mô synop như đã nói ở trên. Chúng thường xuất hiện bên trong một khối không khí và thời gian hoạt động của chúng thường không kéo dài.
Dông đơn lẻ hình thành trong một khối khí [12] 1. Nguyên nhân hình thành dông Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển dòng thăng để tạo thành mây dông, dông được phân thành hai loại là dông động lực và dông nhiệt lực (dông nhiệt). • Dông động lực hình thành nhờ dòng thăng phát sinh chủ yếu do các nguyên nhân động lực như: sự hội tụ khối lượng của các lớp không khí tầng thấp kết hợp với sự phân kỳ trên cao, hoặc sự trượt lên trên của các khối không khí bên trên các mặt nằm nghiêng như các nêm địa hình hoặc các nêm không khí lạnh; • Dông nhiệt lực (gọi tắt là dông nhiệt) hình thành nhờ dòng thăng phát sinh chủ yếu do các nguyên nhân nhiệt lực như khi một vùng rộng lớn của mặt đệm trở nên nóng hơn đáng kể so với các vùng xung quanh (thường do điều kiện hoặc khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ mặt trời không giống nhau) hoặc khi tầng kết nhiệt ẩm của không khí tầng thấp trở nên bất ổn định mạnh (thường do bình lưu) hoặc do cả hai. Dông nhiệt vì vậy mà thường xảy ra ở bên trong một khối không khí.
9 • Trong thực tế cũng khó có thể tách bạch ra những cơn dông mà nguyên nhân hình thành dòng thăng của chúng chỉ là do một điều kiện: đơn thuần động lực hay nhiệt lực. Người ta thường phải xét xem điều kiện nào (động lực hay nhiệt lực) đóng vai trò chủ yếu để phân loại các cơn dông. Cấu trúc không gian Người ta cũng có thể phân loại dông theo đặc điểm cấu trúc của cơn dông: • Ổ dông thường (ordinary cell): hình thành trong môi trường có độ đứt thẳng đứng nhỏ (hiệu tốc độ gió mực 500 mb và mặt đất nhỏ hơn 15 m/s). Loại ổ này có kích thước ngang 5-10 km, giai đoạn thành thục chỉ kéo dài trong 15-30 phút do không được cung cấp đủ ẩm và có thể gây thời tiết mưa to, gió giật trong thời gian ngắn.
• Siêu ổ (super cell): có chiều ngang 10-40 km hình thành trong môi trường có độ đứt thẳng đứng của gió lớn hơn 15 m/s, đặc biệt ở 3 km dưới cùng và có CAPE lớn hơn 1500 J/kg.