Đặt vấn đề Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế của đất nƣớc mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), bảo vệ, cải thiện môi trƣờng và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhƣng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên ngày càng giảm sút cả về số lƣợng và chất lƣợng, làm giảm tính ĐDSH của rừng. Việc mất diện tích rừng sẽ kéo theo hàng loạt những hậu quả về cuộc sống của con ngƣời nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, hạn hán, lũ lụt và đặc biệt là dẫn đến việc mất đi các nguồn gen quý hiếm. Việt Nam đƣợc coi là một trong những nƣớc có sự ĐDSH cao trong khu vực Đông Nam Á với 10.484 loài cây có mạch và ƣớc tính có khoảng 12.[1] Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau nhƣ nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cháy rừng, khai thác quá mức, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P.
công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dƣơng” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 - 1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Tính tới hết năm 2010 - 2011 -2012 với nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua nhiều chƣơng trình và dự án, c 2 tỷ lệ che phủ rừng của nƣớc ta đạt 39,5% năm 2010, 39,7% năm 2011 và năm 2013 39 ,9% ( Quyết định 2089/QĐ-BNN-TCLN năm 2012 về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2011, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và Quyết định 1739/QĐ-BNN-TCLN năm 2013 về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2012 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành) xong chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên vẫn suy giảm. Việc mất rừng tự nhiên, dẫn tới đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trƣờng bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hƣởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cƣ.
Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật.[2] [3] Trong tỉnh Hà Giang diện tích rừng tự nhiên phân bố rộng và trải dài toàn tỉnh với hệ thông thực vật rừng phong phú và đa dạng, với nhiều loài cây gỗ nhƣ Ấu Tẩu, Ba kích trắng, Dứa Rừng, Đƣơng Quy, Ngọc Cẩu,. Trong số đó Hoàng đằng là cây gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, cần đƣợc ƣu tiên bảo tồn và phát triển hàng đầu trong khu vực. Hoàng đằng phân bố tự nhiên hai huyện Quang Bình và huyện Quang bình, KBT Bắc mê, Tây côn lĩnh. Cây Hoàng đằng là vị thuốc quý chữa đƣợc nhiều bệnh nhƣ viêm yết hầu, quai bị, viêm đƣờng hô hấp trên, viêm kết mạc, viêm gan vàng da, viêm dạ dày - ruột, kiết lỵ, trẻ em tiêu hóa kém, ngộ độc thực phẩm,… Cũng chính vì giá trị của chúng mang lại mà số lƣợng Hoàng đằng đang đứng trƣớc nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác mạnh, ngoài công tác bảo vệ theo pháp luật thì để bảo tồn hiệu quả loài này cần có những nghiên cứu sâu về đặc tính sinh thái của chúng.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, phải có những hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của nó, trƣớc hết là phải biết chúng phân bố ở đâu? Sống trong điều kiện nào? Quá trình sinh trƣởng và phát triển của chúng có những yếu tố sinh thái nào chi phối?. Đây chính là những yếu tố để định c 3 hƣớng tiến hành nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài Hoàng đằng. Cho tới nay, mặc dù đã có nhiều công trình điều tra, nghiên cứu về các loài cây phân bố trong tỉnh Hà Giang, nhƣng chƣa có một nghiên cứu chi tiết về đặc tính sinh thái học nào có hệ thống về cây Hoàng đằng. Vì vậy, cần có một nghiên cứu chi tiết để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về loài cây này.
Do đó tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố bảo tồn nguồn gen cây Hoàng đằng (Fibraurea Recisa Pierre và Fibraurea Tinctoria Lour) tại huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu đƣợc sự hiểu biết của ngƣời dân địa phƣơng về loài cây Hoàng đằng trong khu vực nghiên cứu. - Xác định đƣợc một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học phân bố của loài cây Hoàng đằng, từ đó đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Góp phần củng cố phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trƣờng vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả.
Ý nghĩa thực tiễn - Thấy đƣợc sự đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giá đƣợc sự tác động của con ngƣời đối với tài nguyên rừng. - Đƣa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn loài cây Hoàng đằng cùng các loài thực vật quý hiếm khác. - Đây là tài liệu tham khảo cho những ngƣời có nhu cầu tìm hiểu về các vấn đề đã đƣợc nêu trong khóa luận. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U 2.
Cơ sở khoa học Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP). Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm cây Hoàng đằng thuộc nhóm IIA trong nghị định này. Ngày 12/11/2013 Chính phủ đã ban hành nghị định về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc bảo vệ (160/2013/NĐ-CP). Các tiêu chí đƣợc quy định rõ tại điều 4, 5, 6 của chƣơng II trong nghị định này.
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang có rất nhiều loài động thực vật đƣợc xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần đƣợc bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần ĐDSH ở Việt Nam nói riêng và Thế Giới nói chung, một trong những loài thực vật cần đƣợc bảo tồn là cây Hoàng đằng, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Đối với bất kì tác động nào bảo tồn một loài động vật, thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở các xã tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố của loài Hoàng đằng, thống kê số lƣợng, tình hình sinh trƣởng và đặc điểm sinh thái của chúng tại địa bàn nghiên cứu. Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới Các hoạt động hƣớng tới phát triển bền vững và bảo tồn ĐDSH ở các vùng đá vôi ở Việt Nam cũng nhƣ ở nhiều nơi khác trên Thế Giới hiện còn c 5 gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích đến từ nhiều phía. Những vùng này thƣờng có phong cảnh đẹp, hữu tình, truyền thống văn hoá dân tộc giàu bản sắc, tài nguyên rừng phong phú, nhất là các sinh vật quý hiếm mà chỉ có ở vùng núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, v. Nhƣng công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở đó chủ yếu mới chỉ chú trọng đến tăng trƣởng kinh tế mà chƣa chú ý đúng mức đến bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn các loài động thực vật nhất là các loài quý hiếm v.
Ở một số nƣớc đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm đƣa mối quan hệ giữa con ngƣời lên một mức độ khác. Qua đó con ngƣời có những tác động tích cực vào rừng đem lại hiệu quả về mặt quản lý, rừng không bị suy giảm, con ngƣời đƣợc hƣởng lợi nhiều từ rừng. Trong các chƣơng trình các nƣớc quy định quyền sử dụng đất của ngƣời dân. Tại Ấn Độ, Nhà nƣớc chỉ giao đất không có rừng cho các cộng đồng địa phƣơng, đất Lâm nghiệp do Nhà nƣớc quản lý hoặc theo hình thức cộng quản.
Hiện nay Philippines, Thái Lan, Trung Quốc đã cấp giấy phép sử dụng đất cho các cá nhân theo các chƣơng trình Lâm nghiệp xã hội. Các tổ chức hợp tác bảo vệ rừng nhƣ chƣơng trình hợp tác của TFAP (Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch hành động bảo vệ rừng nhiệt đới và ITTA, Hiệp ƣớc quốc tế về gỗ nhiệt đới. Các công ƣớc quốc tế đã đƣợc ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH nhƣ: Công ƣớc Cites 1973, IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nghị định thƣ Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozon (1987).
Tháng 9 năm 1991, hội nghị Lâm nghiệp Thế Giới lần thứ X tại Pari đã vạch ra chiến lƣợc toàn cầu hóa về bảo vệ rừng. Năm 1991, Hiệp hội Thế Giới về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đã đƣa ra đề xuất tăng diện tích rừng đƣợc bảo vệ lên 10% vào thế kỷ XXI. Những c 6 công ƣớc quốc tế đã đƣợc kí kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH trên Thế Giới nhƣ: Công ƣớc bảo vệ di sản văn hóa Thế Giới (1973), công ƣớc về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Công ƣớc Cites, 1973), công ƣớc bảo vệ các vùng đất ƣớt Ramar, Nghị định thƣ montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone (1987), ngày 5/6/1992 công ƣớc ĐDSH đƣợc kí kết và có 170 nƣớc tham gia. Trong Lâm nghiệp, nhiều tác giả đi sâu vào sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp tác động hợp lý và xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.