Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, bảo vệ tài nguyên đất, nguồn nước và cung ứng lâm sản phục vụ đời sống kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, địa hình đồi núi chiếm hơn hai phần ba diện tích lãnh thổ cùng với sự phân hóa khí hậu đa dạng đã tạo điều kiện hình thành các hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú. Tuy nhiên, trước áp lực khai thác và nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng gia tăng, việc nghiên cứu các loài cây gỗ bản địa có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh để đưa vào cơ cấu cây trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và phục hồi rừng tự nhiên là một yêu cầu cấp thiết của ngành lâm nghiệp.
Loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl), thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), là loài cây gỗ bản địa đa tác dụng, sinh trưởng tương đối nhanh, biên độ sinh thái rộng, thích hợp với nhiều điều kiện lập địa ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh... Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI, có đặc tính cơ lý tốt, thớ mịn, vân đẹp, màu đỏ nhạt, dễ gia công chế biến và được ưa chuộng trong sản xuất đồ mộc nội thất cao cấp. Ngoài ra, hạt Xoan đào còn chứa hàm lượng dầu từ 40% đến 45%, có thể sử dụng làm thực phẩm hoặc dược liệu dân gian.
Huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là một trong những địa bàn có Xoan đào phân bố tự nhiên tập trung, đặc biệt trong các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy. Mặc dù vậy, các công trình khoa học trước đây chủ yếu tập trung vào mô tả hình thái, đặc điểm phân bố chung trên phạm vi toàn quốc; số lượng nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính tái sinh tự nhiên của loài Xoan đào tại quy mô lâm phần địa phương còn rất hạn chế. Do đó, việc thực hiện đề tài nhằm bổ sung cơ sở khoa học lâm sinh cho công tác bảo tồn, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và phát triển kinh doanh rừng bền vững.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn nhằm phục vụ khai thác và phát triển bền vững loài cây này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá sơ bộ đặc điểm hình thái thân cành, tán và lá cây Xoan đào tại khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá đặc điểm cấu trúc tầng cây cao (tổ thành, mật độ, cấu trúc tầng thứ, đa dạng sinh học) tại nơi có Xoan đào phân bố.
- Đánh giá đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Xoan đào (mật độ, tổ thành, nguồn gốc, chất lượng, phân bố theo cấp chiều cao, tỷ lệ cây triển vọng và tần suất xuất hiện cây con xung quanh gốc cây mẹ).
- Đánh giá sơ bộ các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên.
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl).
- Phạm vi không gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu thực địa tại 3 xã có Xoan đào phân bố tập trung nhất thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn gồm: xã Vũ Loan, xã Văn Học và xã Cư Lễ.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra nội nghiệp và ngoại nghiệp được thực hiện từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng
Nghiên cứu vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), xem thảm thực vật tái sinh tự nhiên là sự phản chiếu tổng hợp của các điều kiện hoàn cảnh tự nhiên và các nhân tố sinh thái trong quá trình phục hồi rừng thứ sinh. Đồng thời, tác giả kế thừa các lý thuyết lâm sinh về tái sinh rừng nhiệt đới của Richards (1952), Baur (1976), Rollet (1974), Nguyễn Duy Chuyên (1995), Trần Ngũ Phương (2000).
Việc phân chia trạng thái rừng trên thực địa được căn cứ theo quy chuẩn tại Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng (dựa trên nguồn gốc, loài cây, trữ lượng cây đứng gồm rừng nghèo có trữ lượng 10 - 100 m³/ha và rừng trung bình có trữ lượng 101 - 200 m³/ha).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái lâm nghiệp thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời và bán định vị:
- Lập ô tiêu chuẩn tầng cây gỗ: Thiết lập tổng số 27 OTC trên địa bàn 3 xã (9 OTC/xã, diện tích mỗi OTC là 2.000 m², kích thước 40m x 50m). Trong đó:
- Xã Vũ Loan: 4 OTC rừng nghèo, 5 OTC rừng trung bình.
- Xã Văn Học: 4 OTC rừng nghèo, 5 OTC rừng trung bình.
- Xã Cư Lễ: 6 OTC rừng nghèo, 3 OTC rừng trung bình.
- Điều tra tầng cây gỗ: Tiến hành đo đếm toàn bộ các cây gỗ có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$; xác định tên loài; đo chu vi thân quy đổi ra $D_{1.3}$; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước sào chuyên dụng (sai số $\pm 10\text{ cm}$); đo đường kính tán ($D_t$) theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc bằng thước dây; phân cấp phẩm chất thân cây (tốt, trung bình, xấu).
- Lập ô dạng bản (ODB) điều tra cây tái sinh: Trong mỗi OTC 2.000 m², bố trí 5 ODB diện tích 25 m² (kích thước 5m x 5m) theo hai đường chéo (tổng cộng 135 ODB trên toàn khu vực). Nội dung điều tra gồm: xác định tên loài tái sinh, nguồn gốc (hạt hoặc chồi), đánh giá chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu), đo chiều cao cây tái sinh và xác định độ tàn che.
- Điều tra tái sinh quanh cây mẹ: Chọn 9 cây mẹ (cây trội) đại diện, mỗi cây thiết lập 8 ODB (4 ô trong hình chiếu tán và 4 ô ngoài tán, kích thước 5m x 5m), tổng số 72 ODB để theo dõi tần suất xuất hiện và quy luật phát tán hạt.
- Điều tra cây bụi thảm tươi: Xác định thành phần loài, chiều cao, độ che phủ mặt đất (%) và độ nhiều theo thang phân cấp trắc lượng thực vật học (Soc, Cop1, Cop2, Cop3, Sp, Sol, Un, Gr).
- Phương pháp phỏng vấn cộng đồng: Sử dụng phiếu điều tra (Biểu 05) thu thập thông tin từ cán bộ kiểm lâm địa bàn, cán bộ xã và người dân địa phương về tình hình phân bố, tập quán khai thác và giá trị sử dụng của Xoan đào.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích bằng các công thức toán học lâm sinh trên phần mềm Microsoft Excel:
- Chỉ số giá trị quan trọng (IVI%):
$$IVI% = \frac{N_i% + G_i% + RF_i%}{3}$$
Trong đó: $N_i%$ là mật độ tương đối, $G_i%$ là độ ưu thế tương đối (tiết diện ngang $G$), $RF_i%$ là tần suất xuất hiện tương đối của loài $i$. Loài có $IVI% \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành tầng cây cao.
- Chỉ số đa dạng sinh học:
- Chỉ số đa dạng Simpson ($D$):
$$D = 1 - \sum_{i=1}^S \frac{n_i(n_i - 1)}{N(N - 1)}$$
- Chỉ số Shannon - Wiener ($H'$):
$$H' = - \sum_{i=1}^S \left(\frac{n_i}{N}\right) \ln\left(\frac{n_i}{N}\right)$$
- Phân cấp chiều cao cây tái sinh: Phân thành 8 cấp gồm Cấp I ($< 0{,}3\text{ m}$), Cấp II ($0{,}3 - 0{,}5\text{ m}$), Cấp III ($0{,}5 - 1{,}0\text{ m}$), Cấp IV ($1{,}0 - 1{,}5\text{ m}$), Cấp V ($1{,}5 - 2{,}0\text{ m}$), Cấp VI ($2{,}0 - 2{,}5\text{ m}$), Cấp VII ($2{,}5 - 3{,}0\text{ m}$), Cấp VIII ($> 3{,}0\text{ m}$).
- Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng ($CTV%$): Tỷ lệ phần trăm giữa số cây tái sinh chất lượng tốt, trung bình có chiều cao $> 1\text{ m}$ so với tổng số cây tái sinh điều tra.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của rừng và giá trị kinh tế, lâm sinh của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl). Tác giả làm rõ mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể, ý nghĩa học thuật trong việc củng cố kỹ năng nghiên cứu lâm sinh thực địa và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp số liệu phục vụ quy hoạch bảo tồn, gây trồng và phục hồi rừng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quy luật tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới và đặc điểm thực vật học của loài Xoan đào:
- Tổng quan các nghiên cứu quốc tế về cơ chế tái sinh phân tán, tái sinh vệt, ảnh hưởng của độ tàn che, cây bụi thảm tươi và diễn thế phục hồi sau nương rẫy (Van Steenis, Richards, Rollet, Taylor, Saldarriaga, Ramakrishnan...).
- Tổng quan các công trình lâm sinh tại Việt Nam của Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Phùng Ngọc Lan, Vũ Tiến Hinh, Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Duy Chuyên, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Văn Thông, Lê Đình Khả về cấu trúc rừng, sinh thái cây Xoan đào và kỹ thuật xúc tiến tái sinh.
- Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Na Rì: diện tích tự nhiên 85.300 ha, địa hình núi đá vôi và núi đất phức tạp, lượng mưa bình quân 1.600 mm/năm, nhiệt độ trung bình 25°C, diện tích đất lâm nghiệp 66.949,96 ha (chiếm 78,49% diện tích tự nhiên).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại 3 xã (Vũ Loan, Văn Học, Cư Lễ) thuộc huyện Na Rì trong thời gian từ tháng 8/2016 đến tháng 12/2016. Tác giả thiết kế hệ thống 27 OTC (diện tích 2.000 m²/ô), 135 ODB tái sinh (diện tích 25 m²/ô) và 72 ODB quanh 9 cây mẹ; trình bày chi tiết quy trình đo đếm trắc lượng lâm học và hệ thống công thức toán học tính toán chỉ số IVI, chỉ số đa dạng loài Simpson, Shannon - Wiener, phân cấp chiều cao tái sinh và tỷ lệ cây triển vọng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực địa, phân tích và thảo luận chi tiết theo từng nội dung:
-
Đặc điểm hình thái cây Xoan đào:
- Cây thuộc dạng thân đơn trục, thân thẳng, hình trụ, tán thưa hình trứng hoặc hình cầu, vỏ ngoài màu xanh trắng hoặc nâu nhạt có mùi hôi bọ xít đặc trưng; gốc có bạnh vè nhỏ (cây $D_{1.3} > 50\text{ cm}$ bạnh vè cao đến 1,2 m).
- Vị trí phân cành ở khoảng 3/4 chiều cao thân cây, góc phân cành rộng từ 60° đến 70°.
- Lá đơn nguyên, dài 10 - 15 cm, rộng 3 - 4,5 cm, mặt sau có 10 - 15 đôi gân thứ cấp nổi rõ phân bố so le.
- Phân bố chủ yếu ở đai độ cao dưới 800 m thuộc trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp; $D_{1.3}$ trung bình đạt 21,94 cm, $H_{vn}$ trung bình đạt 15,77 m, đường kính tán biến động từ 3,1 m đến 8,6 m.
-
Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao:
- Kết quả chỉ số IVI% và mật độ các loài chủ yếu tại 3 xã được tổng hợp chi tiết qua các trạng thái rừng.
| Địa bàn |
Trạng thái rừng |
Số loài |
Mật độ Xoan đào (cây/ha) |
IVI% Xoan đào |
Các loài ưu thế chính trong công thức tổ thành |
| Xã Vũ Loan |
Nghèo |
13 |
50 |
13,75% |
Dẻ gai (20,3%), Kháo (14,27%), Xoan đào (13,75%), Xoan nhừ, Vối thuốc, Muồng, Sau sau, Trám trắng |
|
Trung bình |
14 |
58 |
14,21% |
Dẻ gai (23,84%), Xoan đào (14,21%), Kháo (14,1%), Sau sau (10,96%), Trám trắng, Xoan nhừ |
| Xã Văn Học |
Nghèo |
13 |
53 |
13,11% |
Dẻ gai (14,67%), Xoan đào (13,11%), Sau sau (11,67%), Dẻ đỏ, Xoan nhừ, Kháo |
|
Trung bình |
32 |
58 |
17,78% |
Xoan đào (17,78%), Dẻ gai (14,26%), Muồng (9,43%), Sau sau, Trám trắng, Kháo |
| Xã Cư Lễ |
Nghèo |
13 |
78 |
19,12% |
Xoan đào (19,12%), Dẻ gai (17,29%), Trám trắng (8,97%), Xoan nhừ, Kháo, Thầu tấu, Sau sau, Lim |
|
Trung bình |
15 |
93 |
24,83% |
Xoan đào (24,83%), Dẻ gai (18,79%), Trám trắng, Lim, Xoan nhừ, Bứa, Muồng |
-
Cấu trúc tầng thứ:
Lâm phần có Xoan đào phân bố tại 3 xã đều thể hiện cấu trúc 3 tầng rõ rệt:
- Tầng A1 (Tầng vượt tán, $H \ge 20\text{ m}$): Phân bố không liên tục, gồm các cá thể gỗ lớn của loài Xoan đào, Trám trắng, Muồng, Lim.
- Tầng A2 (Tầng tán chính, $H = 10 - 15\text{ m}$): Chiếm số lượng cây nhiều nhất, gồm Dẻ gai, Sau sau, Kháo, Xoan nhừ, Bứa, Sồi phảng.
- Tầng A3 (Tầng dưới tán, $H = 5 - 10\text{ m}$ hoặc $5 - 12\text{ m}$): Gồm các cây chịu bóng, cây tái sinh non và các loài cây gỗ nhỏ như Chẹo, Thành ngạnh, Thầu tấu, Hu đay, Bời lời, Mắc niễng.
-
Đa dạng sinh học tầng cây gỗ:
| Địa điểm |
Trạng thái rừng |
Tổng số loài |
Tổng số cá thể |
Chỉ số Simpson ($D$) |
Chỉ số Shannon - Wiener ($H'$) |
| Vũ Loan |
Nghèo |
13 |
368 |
0,19 |
- |
|
Trung bình |
14 |
393 |
- |
0,87 |
| Văn Học |
Trung bình |
32 |
319 |
0,42 |
- |
| Cư Lễ |
Trung bình |
15 |
200 |
0,17 |
- |
- Đặc điểm tầng cây tái sinh:
- Xoan đào có khả năng tái sinh tự nhiên bằng cả hạt và chồi, trong đó tái sinh hạt chiếm tỷ lệ ưu thế ở các khoảng trống và nương rẫy bỏ hóa.
- Mật độ cây con phân bố tập trung dưới tán và vùng rìa tán cây mẹ, giảm dần khi khoảng cách ra xa khỏi tán hình chiếu. Cây con có đặc tính chịu bóng nhẹ ở giai đoạn mạ non và chuyển sang ưa sáng mạnh khi đạt chiều cao trên 1 m.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Phần này tổng kết các kết luận rút ra từ nghiên cứu thực địa về hình thái, mật độ, vị trí tổ thành của Xoan đào trong quần xã rừng tự nhiên Na Rì; đồng thời đưa ra các đề xuất về giải pháp kỹ thuật lâm sinh (phát dọn dây leo bụi rậm, tỉa thưa cây che bóng tầng A3, bảo vệ cây mẹ gieo giống) nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên loài cây này.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Đặc trưng lâm học và hình thái: Xác định Xoan đào tại Na Rì là loài cây gỗ lớn mọc đơn trục, thân thẳng tròn, bạnh vè gốc xuất hiện ở cây có đường kính trên 50 cm. Cây phân bố chủ yếu ở các sườn núi dốc và ven suối dưới độ cao 800 m, sinh trưởng tốt trong kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp thứ sinh phục hồi sau nương rẫy.
- Vị thế sinh thái trong quần xã: Xoan đào luôn giữ vai trò loài ưu thế hoặc đồng ưu thế trong cấu trúc lâm phần tại cả 3 xã điều tra. Mật độ cây gỗ $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$ của loài dao động từ 50 cây/ha đến 93 cây/ha. Chỉ số quan trọng $IVI%$ của Xoan đào đạt từ 13,11% đến 24,83%, cao nhất tại trạng thái rừng trung bình xã Cư Lễ (chiếm 24,83% tổ thành lâm phần).
- Cấu trúc tầng tán: Xoan đào là thành phần cốt lõi cấu thành nên tầng vượt tán (A1, chiều cao $> 20\text{ m}$) và tầng tán chính (A2) của rừng phục hồi tại khu vực nghiên cứu.
- Tiềm năng tái sinh: Cây tái sinh Xoan đào có mặt thường xuyên trong các ô tiêu chuẩn, thể hiện khả năng thích ứng cao của hạt giống trong điều kiện thảm tươi vừa phải; mật độ cây con đạt yêu cầu cho quá trình tái sinh tự nhiên thành rừng.
Giải pháp và kiến nghị lâm sinh của tác giả
- Áp dụng các biện pháp lâm sinh xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác động: định kỳ phát luỗng dây leo, cây bụi che lấn quá mức quanh các cụm cây con Xoan đào có triển vọng nhằm cải thiện điều kiện chiếu sáng.
- Bảo vệ nghiêm ngặt các cây mẹ thành thục (cây trội) có phẩm chất tốt ở tầng A1 để duy trì nguồn hạt giống gieo tự nhiên tại chỗ.
- Đưa loài Xoan đào vào cơ cấu cây trồng chính trong các chương trình khoanh nuôi phục hồi rừng nghèo kiệt, trồng làm giàu rừng và phát triển mô hình rừng trồng gỗ lớn tại huyện Na Rì và các địa phương có điều kiện sinh thái tương đồng.
Đóng góp về mặt khoa học
Khóa luận đã bổ sung nguồn dữ liệu định lượng thực địa chi tiết về tổ thành, mật độ, cấu trúc tầng thứ và khả năng tái sinh của loài Xoan đào tại các xã vùng sâu của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; cung cấp cơ sở dữ liệu lâm sinh xác thực phục vụ công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững ở cấp địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về thời gian và mùa vụ: Do khuôn khổ thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp diễn ra từ tháng 8/2016 đến tháng 12/2016, nghiên cứu chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng, thời điểm ra hoa (tháng 8 - 9) đến khi quả chín rụng rộ (tháng 11 - 12) qua nhiều năm liên tiếp để đánh giá biến động tỷ lệ nảy mầm theo mùa.
- Hạn chế về phạm vi không gian: Số liệu thực nghiệm mới chỉ tập trung tại 3 xã (Vũ Loan, Văn Học, Cư Lễ) thuộc huyện Na Rì, chưa mở rộng ra toàn bộ 21 xã của huyện hoặc so sánh đối chứng với các vùng sinh thái rừng núi đá vôi chuyên biệt (như Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả kiến nghị cần tiếp tục theo dõi diễn thế tái sinh của Xoan đào trên các ô tiêu chuẩn định vị dài hạn; nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các đặc tính lý hóa tính tầng đất mặt, độ ẩm đất và các can thiệp tỉa thưa lâm sinh đến tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao của cây tái sinh triển vọng.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý Tài nguyên rừng, Khoa học Môi trường và Sinh thái học thực vật:
- Phương pháp luận và kỹ thuật điều tra: Cung cấp quy trình chuẩn mực về phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn (OTC 2.000 m²), ô dạng bản (ODB 25 m²), kỹ thuật đo đếm trắc lượng cây đứng, cây tái sinh và phương pháp tính toán các chỉ số $IVI%$, Simpson, Shannon - Wiener.
- Dữ liệu thực tế cho địa phương: Cung cấp thông tin thực địa có giá trị cho Hạt Kiểm lâm Na Rì, Ban quản lý rừng và Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Na Rì trong việc xây dựng đề án bảo tồn loài cây bản địa và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên sau nương rẫy.
Câu hỏi thường gặp
1. Loài Xoan đào tại huyện Na Rì thuộc họ thực vật nào và có tên đồng nghĩa khoa học là gì?
Loài Xoan đào có tên khoa học là Pygeum arboreum Endl, tên đồng nghĩa là Prunus arborea, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Tên gọi theo tiếng dân tộc Tày tại địa phương là Mạy thoong.
2. Gỗ Xoan đào thuộc nhóm mấy và có những chỉ tiêu cơ lý chủ yếu nào được ghi nhận?
Gỗ Xoan đào được xếp vào nhóm VI. Theo các số liệu tổng quan trong khóa luận, gỗ có tỷ trọng 0,518; sức chịu kéo ngang thớ là 26 kg/cm²; sức chịu nén dọc thớ đạt 368 kg/cm² và ứng suất uốn cong (oằn) là 0,865 kg/cm².
3. Mật độ và chỉ số quan trọng ($IVI%$) của Xoan đào đạt cao nhất ở xã nào trong 3 xã nghiên cứu?
Xoan đào đạt mật độ và chỉ số quan trọng cao nhất tại trạng thái rừng trung bình ở xã Cư Lễ với mật độ 93 cây/ha và chỉ số $IVI% = 24{,}83%$.
4. Khóa luận phân chia chiều cao cây tái sinh thành bao nhiêu cấp và tiêu chuẩn cây triển vọng ($CTV$) là gì?
Cây tái sinh được phân chia thành 8 cấp chiều cao (từ Cấp I: $< 0{,}3\text{ m}$ đến Cấp VIII: $> 3{,}0\text{ m}$). Cây triển vọng ($CTV$) được xác định là những cây tái sinh có phẩm chất sinh trưởng tốt hoặc trung bình và có chiều cao đạt trên 1,0 m ($H > 1\text{ m}$).
5. Tổng số ô tiêu chuẩn và ô dạng bản được thiết lập trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tác giả đã thiết lập 27 ô tiêu chuẩn tầng cây gỗ (diện tích 2.000 m²/ô), 135 ô dạng bản điều tra cây tái sinh phân bố theo đường chéo OTC (diện tích 25 m²/ô) và 72 ô dạng bản điều tra xung quanh 9 cây mẹ đại diện trên địa bàn 3 xã Vũ Loan, Văn Học và Cư Lễ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trình Đức Mạnh đã thực hiện khảo sát thực nghiệm toàn diện về đặc điểm hình thái và sinh thái tái sinh của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Các kết quả định lượng khẳng định Xoan đào là loài cây gỗ bản địa ưu thế trong cấu trúc tầng tán và có tiềm năng tái sinh tự nhiên tốt trong các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi. Công trình cung cấp hệ thống số liệu trắc lượng tin cậy và đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh thiết thực nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.