Tổng quan luận án
Đồng bằng sông Hồng là vùng đồng bằng rộng lớn nằm bao quanh hạ lưu sông Hồng, trải rộng từ vĩ độ 21°34´ Bắc đến khoảng 19°5´ Bắc và từ 105°17´ Đông đến 107°7´ Đông với tổng diện tích tự nhiên khoảng 2,1 triệu ha, trong đó diện tích toàn vùng đồng bằng là 15.000 km² (chiếm 4,5% diện tích cả nước). Vùng tập trung 11 tỉnh và thành phố gồm Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình với quy mô dân số trên 20,4 triệu người (năm 2015), chiếm 22,78% dân số cả nước, đóng góp 43,3 tỷ USD GDP (nông nghiệp chiếm 19,4%). Theo Quyết định số 1554/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012–2020 và định hướng đến năm 2050, nhu cầu nước cho phát triển kinh tế – xã hội hạ du năm 2010 là 24 tỷ m³, dự báo năm 2020 là 31 tỷ m³ và năm 2050 lên tới 36 tỷ m³, trong đó 80% nhu cầu tập trung vào các tháng mùa kiệt (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau).
Về mùa lũ, lũ lớn từ thượng lưu đe dọa trực tiếp đến an toàn dân sinh và cơ sở hạ tầng vùng đồng bằng hạ du và Thủ đô Hà Nội. Để thực hiện nhiệm vụ phòng chống lũ, cấp nước và phát điện, hệ thống các hồ chứa lớn gồm Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang và Thác Bà đã được xây dựng trên lưu vực sông Hồng. Các hồ chứa này có dung tích phòng lũ hạ du lớn và đều bố trí dưới mực nước dâng bình thường. Theo quy trình thiết kế truyền thống, các hồ chỉ được phép tích nước vào cuối mùa lũ (cuối tháng 8 hàng năm), dẫn tới mâu thuẫn gay gắt giữa nhiệm vụ giữ dung tích trống phòng lũ và nhu cầu tích trữ nước phục vụ phát điện, cấp nước mùa cạn. Các quy trình vận hành liên hồ chứa ban hành theo Quyết định số 198/QĐ-TTg ngày 10/02/2011 (QT198) và Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 17/09/2015 (QT1622) của Thủ tướng Chính phủ bước đầu cho phép duy trì mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ nhưng chỉ tạo khung cứng và phụ thuộc vào nhận định thời tiết, chưa có căn cứ khoa học cụ thể hóa chế độ tích nước chi tiết theo thời gian thực.
Trong thực tế quản lý, hai câu hỏi then chốt chưa được giải quyết trọn vẹn:
- Có cho phép các hồ chứa được tích nước từ đầu mùa lũ không, và nếu cho phép thì quy định tích nước phải như thế nào mới đảm bảo an toàn chống lũ hạ du?
- Theo quy định, thời kỳ lũ muộn các hồ chứa phải tích nước dần đến mực nước dâng bình thường, nhưng nếu xảy ra lũ lớn bất thường thì các hồ chứa sẽ ứng phó như thế nào để giảm lũ cho hạ du mà vẫn đảm bảo an toàn cho công trình?
Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu đưa ra cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ, đảm bảo an toàn tích nước đầy hồ, nâng cao hiệu quả cấp nước và phát điện mà vẫn đảm bảo an toàn chống lũ hạ du và chống lũ cho công trình cho hai hồ chứa Hòa Bình và Sơn La.
- Nghiên cứu đề xuất chế độ vận hành điều tiết cắt lũ cho hạ du trong thời kỳ lũ muộn, khi các hồ chứa Sơn La và Hòa Bình được phép tích nước đầy hồ, đảm bảo giảm thiểu tác động tiêu cực cho hạ du khi xảy ra lũ lớn bất thường.
- Đối tượng nghiên cứu: Vận hành điều tiết và chống lũ cho hệ thống hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La trong thời kỳ mùa lũ.
- Phạm vi nghiên cứu: Chế độ điều tiết chống lũ hạ du được xem xét tổng thể trong hệ thống liên hồ chứa gồm 4 hồ Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang và Thác Bà trên lưu vực sông Hồng; phạm vi nghiên cứu chế độ vận hành tích nước tập trung vào hệ thống 2 hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La trên dòng chính sông Đà trong các thời kỳ mùa lũ (lũ sớm, lũ chính vụ và lũ muộn).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các nghiên cứu quốc tế về quản lý và vận hành hệ thống hồ chứa đa mục tiêu đã phát triển qua nhiều giai đoạn với các cách tiếp cận chính:
- Kỹ thuật tối ưu hóa: Bắt đầu từ phương pháp xác định dung tích trữ đơn giản của Rippl (1883), các nghiên cứu tổng quan của Yeh (1985), Simonovic (1992) và Wurbs (1993) đã hệ thống hóa các kỹ thuật tối ưu hóa trong quản lý tài nguyên nước. Quy hoạch tuyến tính (LP) được Mujumdar và Teegavarapu (1998) áp dụng cho vận hành hồ tưới thời đoạn ngắn; Unver và Mays (1990) kết hợp mô hình phi tuyến với thủy văn ngẫu nhiên để kiểm soát lũ thời gian thực. Quy hoạch động (DP) được Young (1967) khởi xướng với kỹ thuật DP Monte-Carlo kết hợp hồi quy; Korsak và Larson (1970) đề xuất quy hoạch động xấp xỉ liên tục (DPSA); Heidari và cộng sự (1971) ứng dụng quy hoạch động sai phân rời rạc (DDDP) cho hệ thống 4 hồ chứa; Loucks và cộng sự (1981), Mujumdar và Vedula (1992) phát triển quy hoạch động ngẫu nhiên (SDP). Trong nhóm thuật toán heuristic và trí tuệ nhân tạo, Chang (2008) ứng dụng thuật toán tiến hóa đa mục tiêu NSGA-II cho hệ thống hồ Shihmen và Feitsui (Đài Loan); Reis (2006) kết hợp thuật toán di truyền GA và LP; Kerachian và Karamouz phát triển mô hình GA kết hợp lý thuyết Nash cho hồ Satarkhan (Iran); Heidari và cộng sự ứng dụng mạng Bayesian (BN); Elferchichi và cộng sự ứng dụng GA cho hệ thống tưới Sinista Ofanto (Ý); Wei và Hsu (2008) so sánh các thuật toán nhánh cây C5.0, NDT, FIDs trên sông Shihmen; Wei và cộng sự (2009) vận hành thời gian thực cho hệ thống hồ Tanshui (Đài Loan) qua các trận bão Aere, Haima, Nock-ten (2004); Chaves và Chang (2008) ứng dụng mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) cho hồ Shihmen; Mehdipour và cộng sự (2012) nghiên cứu tối ưu hóa thời gian thực đa mục tiêu.
- Phương pháp mô phỏng và mô hình kết hợp: Các gói phần mềm mô phỏng dòng chảy và điều tiết hồ chứa được phát triển như HEC-5, HEC-ResSim của Trung tâm Kỹ thuật Thủy văn Quân đội Mỹ (Feldman, Wurbs), MIKE 11 của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI), SSARR, IRIS, WRAP. Wurbs (1993) đã tổng kết xu hướng kết hợp tối ưu và mô phỏng thông qua quy hoạch mạng lưới dòng (Network Flow Programming). Bahram và cộng sự (2009) kết hợp mô hình GA, GIS và HEC-RAS/HEC-GeoRAS cho hệ thống bậc thang hai hồ Bakhtiari và Dez (Iran).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu vận hành hệ thống hồ chứa sông Hồng và dự báo thủy văn phục vụ cắt lũ được triển khai đồng bộ:
- Ngô Lê Long và cộng sự (2007) kết hợp mô hình MIKE 11 và thuật toán tiến hóa SCE tìm đường Pareto tối ưu vận hành hồ Hòa Bình.
- Nguyễn Thế Hùng và Lê Hùng (2011) áp dụng thuật toán DP giải bài toán đa mục tiêu cho hồ Bình Định và hồ A Vương.
- Hoàng Thanh Tùng (2011) kết hợp mạng ANN (thuật toán BPNN giải đoán bằng GA) với HEC-HMS và HEC-ResSim trên lưu vực sông Cả.
- Viện Quy hoạch Thủy lợi và Trường Đại học Thủy lợi (2014) tích hợp MIKE 11, HEC-ResSim, MOPHONG, GAMS và Crystal Ball nghiên cứu vận hành hệ thống hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang mùa kiệt và thời kỳ chuyển tiếp lũ - kiệt.
- Tô Thúy Nga xây dựng công cụ MOPHONG-LU tích hợp mô hình mưa - dòng chảy, vận hành hồ và diễn toán lũ trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn.
- Công ty Tư vấn Điện 1 (PECC1) sử dụng mô hình MIKE 11 mô phỏng lũ PMF và lũ tần suất 500 năm tại Sơn Tây, làm căn cứ điều chỉnh nâng mực nước trước lũ thời kỳ lũ chính vụ của hồ Sơn La từ 194 m lên 197,3 m trong QT1622.
- Về công nghệ dự báo: Trịnh Quang Hòa và cộng sự (1994) xây dựng công nghệ nhận dạng lũ hồ Hòa Bình; Nguyễn Lan Châu (1995–1997) ứng dụng mô hình Tank, Nam và hồi quy bội dự báo lũ sông Thái Bình; Nguyễn Văn Điệp (đề tài KC-08-13 và KC-08-17/06-10) thiết lập hệ thống mô phỏng, dự báo lũ sông Hồng gắn kết GIS và biên triều; Vũ Minh Cát (2008) kết nối mô hình DIMOSOP với mô hình khí tượng BOLAM dự báo dòng chảy 5 ngày; Viện Cơ học (2010) kết hợp các mô hình HRM, ETA, BOLAM, MARINE, TANK-MUSKINGUM dự báo dòng chảy đến hồ Sơn La; Hà Văn Khối (2010) nghiên cứu cơ sở khoa học xóa các khu chậm lũ sông Hồng, sông Đáy, sông Hoàng Long (làm tiền đề cho Nghị định 04/2011/NĐ-CP); Bùi Đình Lập (2014–2016) ứng dụng mô hình thủy văn phân bố MARINE và 4 phương pháp dự báo dòng chảy đến 6 hồ chứa lớn trên lưu vực sông Hồng.
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả mô phỏng thủy lực và dự báo thủy văn hiện đại, luận án tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn mà các nghiên cứu trước và các quy trình QT198, QT1622 chưa lượng hóa: xác định định lượng mực nước giới hạn trên ($H_{gh}$) cho hồ chứa Sơn La theo từng cấp mực nước thực tế tại trạm Hà Nội trong giai đoạn tích nước hạn chế, đồng thời thiết lập cơ chế vận hành ứng phó trong trường hợp xuất hiện lũ lớn bất thường khi các hồ chứa đã tích nước lên cao vào cuối mùa lũ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết điều tiết dòng chảy và nguyên tắc vận hành hệ thống hồ chứa đa mục tiêu (hệ thống hồ bậc thang và hệ thống hồ song song):
| Hệ thống hồ |
Mục tiêu |
Nguyên tắc tích nước |
Nguyên tắc xả nước |
| Hồ bậc thang |
Cấp nước / Dự trữ |
Tích đầy hồ trên cùng trước |
Xả hồ dưới cùng trước |
| Hồ bậc thang |
Phòng lũ |
Tích đầy hồ trên cùng trước |
Xả hồ dưới cùng trước (khi cần tạo dung tích trống) |
| Hồ bậc thang |
Phát điện |
Tối đa hóa lượng trữ trong hồ cho sản xuất năng lượng cao nhất |
Duy trì cột nước làm việc cao nhất |
| Hồ song song |
Phòng lũ |
Giữ dung tích trống phòng lũ ở hồ chứa có lũ đến |
Điều hòa tổng lưu lượng xả không vượt giới hạn an toàn hạ du |
| Hồ song song |
Cấp nước |
Cân bằng khả năng xả từng thời kỳ giữa các hồ |
Cân bằng khả năng tháo nước giữa các hồ |
Khung phân tích của luận án kết hợp nguyên tắc điều hành theo thời gian thực: quyết định vận hành tại mỗi thời điểm phụ thuộc vào trạng thái mực nước hiện tại của hồ chứa, lưu lượng nước đến hồ, dự báo dòng chảy đến trong 3 ngày (thời gian dự kiến 48h–72h) và diễn biến mực nước khống chế thực tế tại trạm thủy văn Hà Nội. Quá trình tích nước mùa lũ được phân chia thành 2 giai đoạn:
- Thời kỳ tích nước hạn chế: Từ ngày 15/06 đến ngày 21/08 hàng năm.
- Thời kỳ tích nước gia tăng / lũ muộn: Từ ngày 22/08 đến cuối mùa lũ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích quy luật mưa lũ lưu vực sông Hồng gắn với các hình thế thời tiết gây mưa lớn điển hình (dải hội tụ nhiệt đới DHTNĐ, áp thấp nhiệt đới ATNĐ, cao áp Thái Bình Dương CATBD, rãnh thấp nóng RTN, xoáy thuận XT, không khí lạnh KKL); phân tích thực trạng chế độ dòng chảy và mực nước hạ du trạm Hà Nội giai đoạn 1960–1990 và 1991–2012; đánh giá dung tích phòng lũ của hệ thống hồ chứa bậc thang trên sông Đà.
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa hệ thống số liệu địa hình, chuỗi thủy văn lịch sử và các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 257/2016/QĐ-TTg, Quyết định 1554/QĐ-TTg, các quy trình QT57, QT103, QT80, QT848, QT198, QT859, QT1622).
- Phương pháp mô hình toán:
- Ứng dụng bảng tính MS Excel giải phương trình cân bằng nước để tính toán điều tiết dòng chảy qua hồ chứa theo phương pháp thử dần xác định mực nước giới hạn $H_{gh}$.
- Sử dụng mô hình thủy lực một chiều MIKE 11 (của Viện Thủy lực Đan Mạch DHI) mô phỏng dòng chảy và diễn toán thủy lực trên toàn bộ mạng lưới sông Hồng – Thái Bình.
Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Dữ liệu địa hình và công trình: Sơ đồ mạng thủy lực hệ thống sông Hồng; thông số kỹ thuật 11 công trình thủy điện trên thượng nguồn sông Đà thuộc lãnh thổ Trung Quốc (tổng công suất 1.724 MW) và hệ thống 5 hồ chứa lớn trên lãnh thổ Việt Nam.
- Dữ liệu quan trắc thủy văn: Chuỗi số liệu mực nước, lưu lượng tại các trạm biên giới (Trung Ái Kiều, Thổ Khả Hà, Kim Thủy Hà, Tứ Nam, Mường Tè, Hà Giang) và các trạm hạ du (Sơn Tây, Hà Nội); số liệu mực nước mùa lũ từ năm 1960 đến 2013 tại Hà Nội; dữ liệu vận hành thực tế các hồ Sơn La, Hòa Bình giai đoạn 2012–2015.
- Dữ liệu lũ mô hình: Chuỗi lũ lịch sử đặc biệt lớn các năm 1969, 1971, 1996; kịch bản lũ kiểm tra chu kỳ 500 năm (tần suất 0,2%) và lũ PMF tại Sơn Tây.
| Tên công trình |
Sông |
Mực nước dâng bình thường (m) |
Mực nước dâng gia cường (m) |
Dung tích phòng lũ hạ du (tỷ m³) |
| Thác Bà |
Chảy |
58,0 |
61,0 |
0,45 |
| Tuyên Quang |
Gâm |
120,0 |
122,55 |
1,00 |
| Bản Chát |
Nậm Mu |
475,0 |
- |
- |
| Huổi Quảng |
Nậm Mu |
370,0 |
- |
- |
| Lai Châu |
Đà |
295,0 |
297,0 (MN lớn nhất TK) |
Không có nhiệm vụ chống lũ hạ du |
| Sơn La |
Đà |
215,0 |
217,83 |
7,00 (kết hợp với hồ Hòa Bình) |
| Hòa Bình |
Đà |
117,0 |
122,0 |
2,90 (nằm trong 7,0 tỷ m³ của bậc thang) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu vận hành hồ chứa đa mục tiêu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý vận hành hồ chứa đơn mục tiêu và đa mục tiêu, phân tích các dạng mâu thuẫn lợi ích giữa phòng lũ, phát điện và cấp nước mùa cạn. Tác giả tổng kết ba nhóm phương pháp xây dựng quy trình vận hành: kỹ thuật tối ưu hóa (LP, DP, SDP, Heuristic, GA, ANN), kỹ thuật mô phỏng (HEC-5, HEC-ResSim, MIKE 11, SSARR) và kỹ thuật kết hợp tối ưu - mô phỏng.
Chương này trình bày chi tiết đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Hồng (diện tích 169.020 km², phần Việt Nam chiếm 51% với 87.840 km²). Tác giả thống kê hiện trạng 11 thủy điện trên sông Lý Tiên (thượng nguồn sông Đà phía Trung Quốc) với tổng công suất lắp máy 1.724 MW:
| TT |
Tên công trình |
Công suất (MW) |
Dung tích (triệu m³) |
Chiều cao đập (m) |
Vị trí |
Tình trạng |
| 1 |
Tọa Dương Sơn |
120 |
247 |
88 |
Nhánh Bả Biên |
Đã vận hành |
| 2 |
Thạch Môn Khảm |
130 |
195 |
108 |
Nhánh Bả Biên |
Đã vận hành |
| 3 |
Tân Bình Trại |
300 |
- |
- |
Nhánh Bả Biên |
- |
| 4 |
Long Mã |
240 |
590 |
135 |
Nhánh Bả Biên |
Đã vận hành |
| 5 |
Chung Ái Kiều |
- |
- |
- |
Nhánh A Mặc |
- |
| 6 |
Phổ Tú Kiều |
- |
- |
- |
Nhánh A Mặc |
- |
| 7 |
Tam Giang Khẩu |
99 |
84,5 |
77 |
Nhánh A Mặc |
Đã vận hành |
| 8 |
Tứ Nam Giang |
210 |
246 |
115 |
Nhánh Tứ Nam |
Đã vận hành |
| 9 |
Cư Phổ Độ |
285 |
174 |
95 |
Nhánh Lý Tiên |
Đã vận hành |
| 10 |
Qua Lan Than |
450 |
409 |
113 |
Nhánh Lý Tiên |
Đã vận hành |
| 11 |
Thổ Khả Hà |
165 |
78 |
59,2 |
Nhánh Lý Tiên |
Đã vận hành |
Trên lãnh thổ Việt Nam, hệ thống hồ bậc thang sông Đà (Sơn La, Hòa Bình) kết hợp hồ Tuyên Quang và Thác Bà gánh vác nhiệm vụ kiểm soát lũ với tổng dung tích phòng lũ hạ du là 8,45 tỷ m³ (bậc thang sông Đà chiếm 7,0 tỷ m³). Tổng dung tích hiệu dụng của 5 hồ chứa trên hệ thống sông Đà (Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Bản Chát, Huổi Quảng) đạt 14,672 tỷ m³, tổng dung tích chống lũ cho công trình và hạ du của Hòa Bình và Sơn La là 10,26 tỷ m³.
Chương 1 cũng điểm lại quá trình phát triển các văn bản pháp lý vận hành liên hồ trên lưu vực sông Hồng qua các thời kỳ: Quy trình năm 1991, QT57 (1997), QT103 (2005), QT80 (2007), QT848 (2010), QT198 (2011), QT859 (2011) và QT1622 (2015). Phân tích cho thấy các quy trình đã có quy định mở cho phép nâng mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ (MNTL) trong thời kỳ lũ chính vụ khi không có lũ, nhưng chưa xác định giới hạn mực nước được phép nâng cụ thể và thiếu hướng dẫn xử lý khi gặp lũ lớn bất thường trong thời kỳ tích nước.
Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định chế độ vận hành tích nước trong thời kỳ mùa lũ đối với hệ thống hồ chứa Hòa Bình và Sơn La
Chương 2 tập trung phân tích những bất cập trong thực tiễn vận hành theo QT80, QT198 và QT1622. Số liệu vận hành giai đoạn 2012–2015 cho thấy mực nước thực tế tại hồ Sơn La và Hòa Bình thường xuyên được duy trì cao hơn mực nước trước lũ quy định do mực nước thực tế tại Hà Nội luôn ở mức rất thấp (thường dưới 6,0 m; thấp xa so với mức báo động). Phân tích chuỗi số liệu thủy văn 1960–2013 chỉ ra rằng sau khi có hồ Hòa Bình, chế độ mực nước mùa lũ tại Hà Nội đã suy giảm đáng kể do tác động điều tiết và biến đổi lòng dẫn hạ du (đường quan hệ Q–H trôi dạt xuống thấp).
Về cơ sở khoa học và khả năng dự báo khí tượng thủy văn, kết quả đánh giá các đề tài nghiên cứu giai đoạn 2008–2016 (đề tài của Bùi Đình Lập và Trung tâm KTTV Quốc gia) cho thấy độ chính xác của dự báo dòng chảy lũ đến hồ Hòa Bình và Sơn La với thời gian dự kiến 3 ngày (72h) đạt mức tin cậy trên 70%. Đây là tiền đề kỹ thuật quan trọng cho phép thực hiện phương thức vận hành đón lũ chủ động theo thời gian thực: hạ mực nước hồ về mực nước an toàn trước khi lũ về.
Tác giả đề xuất quan điểm phân chia thời kỳ tích nước mùa lũ làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn tích nước hạn chế (15/06 đến 21/08): Cho phép hồ Sơn La tích nước cao hơn mực nước trước lũ quy định ($197,3\text{ m}$) lên một giá trị giới hạn $H_{gh}$, với điều kiện khi xuất hiện trận lũ thiết kế 500 năm tại Sơn Tây, hệ thống vẫn đủ thời gian và khả năng xả để hạ mực nước hồ về mực nước an toàn, đảm bảo mực nước Hà Nội không vượt quá 13,4 m.
- Giai đoạn tích nước gia tăng / ứng phó lũ bất thường (từ 22/08 đến cuối mùa lũ): Xây dựng phương án vận hành khi hồ đã tích đến mực nước dâng bình thường mà gặp lũ lớn bất thường (tương đương trận lũ lịch sử 1969, 1971, 1996 với chu kỳ lặp lại 500 năm).
Chương 2 cũng thiết lập sơ đồ tính toán thử dần điều tiết dòng chảy bằng MS Excel kết hợp với mô hình thủy lực MIKE 11 để xác định các giá trị $H_{gh}$ tương ứng với từng cấp mực nước Hà Nội.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu chế độ vận hành trong thời kỳ tích nước hệ thống hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La
Chương 3 trình bày các kết quả tính toán mô phỏng thủy lực và thiết lập bảng nguyên tắc vận hành:
-
Xác định mực nước giới hạn $H_{gh}$ hồ Sơn La trong thời kỳ tích nước hạn chế (15/06 – 21/08):
Mực nước khống chế tại Hà Nội được chia thành 4 cấp: cấp $H_{\text{HN}} < 4,0\text{ m}$; cấp $4,0\text{ m} \le H_{\text{HN}} \le 6,0\text{ m}$; cấp $6,0\text{ m} \le H_{\text{HN}} \le 8,0\text{ m}$; và cấp $H_{\text{HN}} > 8,0\text{ m}$. Kết quả mô phỏng điều tiết lũ thiết kế 500 năm (mô hình lũ 1996) cho thấy:
- Khi mực nước Hà Nội ở mức thấp ($H_{\text{HN}} < 6,0\text{ m}$), hồ Sơn La có thể nâng mực nước giới hạn $H_{gh}$ lên cao hơn mức $197,3\text{ m}$ (mức quy định trong QT1622) mà vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạ du.
- Khi dự báo có lũ lớn hoặc mực nước Hà Nội vượt ngưỡng quy định, hồ Sơn La và Hòa Bình vận hành mở cửa xả đáy/xả mặt theo quy trình cập nhật hàng ngày để đưa mực nước về mức đón lũ an toàn.
-
Nghiên cứu phương án ứng phó lũ bất thường thời kỳ tích nước đầy hồ (từ 22/08 đến cuối mùa lũ):
Tác giả kiểm tra các kịch bản lũ lớn chu kỳ 500 năm tại Sơn Tây xuất hiện bất thường vào thời điểm hồ Sơn La và Hòa Bình đã tích đầy nước (Sơn La ở cao trình 215,0 m; Hòa Bình ở cao trình 117,0 m). Bằng việc áp dụng giải pháp hạ thấp mực nước đón lũ chủ động theo bản tin dự báo trước 3 ngày, kết quả tính toán mô phỏng thủy lực cho thấy:
- Hệ thống hồ bậc thang sông Đà hoàn toàn kiểm soát được lũ, lưu lượng tại Sơn Tây không vượt quá 28.000 m³/s, lưu lượng tại Hà Nội không vượt quá 20.000 m³/s.
- Mực nước lớn nhất tại Hà Nội duy trì ở mức dưới 13,4 m đối với lũ chu kỳ 500 năm và dưới 13,1 m đối với lũ chu kỳ 300 năm, bảo đảm an toàn công trình và hệ thống đê điều hạ du.
-
Đề xuất Bảng nguyên tắc vận hành tích nước liên hồ chứa Hòa Bình và Sơn La:
Tổng hợp kết quả nghiên cứu thành bộ nguyên tắc vận hành tích nước chi tiết theo bảng chỉ dẫn, quy định cụ thể mực nước giới hạn cho phép tích, điều kiện duy trì, chế độ xả hạ mực nước đón lũ và quy trình hiệu chỉnh theo số liệu dự báo thủy văn tác nghiệp hàng ngày.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án bao gồm:
- Về lý luận khoa học:
- Đề xuất quan điểm nghiên cứu vận hành hệ thống hồ chứa theo thời gian thực kết hợp kết quả dự báo thủy văn hạn ngắn (3 ngày) với diễn biến mực nước thực tế tại trạm Hà Nội, thay thế phương thức vận hành tĩnh truyền thống.
- Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp xác định mực nước giới hạn trên ($H_{gh}$) của quá trình tích nước hồ chứa Sơn La trong thời kỳ tích nước hạn chế (15/06 đến 21/08), chứng minh tính khả thi của việc tích nước sớm có điều kiện mà vẫn bảo đảm dung tích phòng lũ hạ du và an toàn công trình.
- Về thực tiễn và ứng dụng:
- Xây dựng Bảng nguyên tắc vận hành tích nước hệ thống hồ chứa bậc thang Hòa Bình và Sơn La tương ứng với các cấp mực nước khống chế tại trạm Hà Nội.
- Đề xuất phương án vận hành điều tiết và phương thức ứng phó khẩn cấp khi xảy ra lũ lớn bất thường trong thời kỳ các hồ chứa đã tích nước đầy ở cuối mùa lũ.
- Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh, bổ sung Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng (QT1622) và hỗ trợ ra quyết định tác nghiệp điều hành hồ chứa hàng năm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Nguồn số liệu quan trắc khí tượng thủy văn và thông tin vận hành các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Đà phía Trung Quốc còn hạn chế (phía Trung Quốc chỉ cung cấp số liệu mực nước, lưu lượng một số trạm biên giới, không cung cấp quy mô và quy trình vận hành cụ thể của 11 nhà máy thủy điện).
- Độ chính xác của dự báo dòng chảy từ ngày thứ 4 và thứ 5 trở đi còn phụ thuộc lớn vào chất lượng dự báo mưa số trị.
- Phạm vi tính toán chi tiết chế độ tích nước tập trung chủ yếu vào 2 hồ bậc thang trên dòng chính sông Đà (Sơn La và Hòa Bình), chưa tối ưu hóa mở rộng đồng thời cho toàn bộ 4 hồ lớn (kèm Tuyên Quang và Thác Bà).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Hoàn thiện công nghệ tích hợp mô hình dự báo khí tượng số trị độ phân giải cao nhằm nâng cao độ chính xác dự báo mưa và kéo dài thời gian dự kiến dự báo dòng chảy đến các hồ chứa.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp chia sẻ thông tin thủy văn xuyên biên giới và xây dựng mô hình vận hành tối ưu tổng thể cho toàn bộ hệ thống liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả của luận án có giá trị tham khảo đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước và ra quyết định: Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương trong việc rà soát, sửa đổi quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng.
- Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy điện: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Công ty Thủy điện Sơn La, Công ty Thủy điện Hòa Bình trong việc xây dựng kế hoạch tích nước, vận hành phát điện và xả lũ tác nghiệp hàng năm.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật tài nguyên nước, Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình thủy lợi – thủy điện tại Trường Đại học Thủy lợi, Viện Quy hoạch Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Các phần phương pháp xác định mực nước giới hạn $H_{gh}$ và kỹ thuật mô phỏng thủy lực liên hồ bằng MIKE 11 là tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu chuyên sâu.
Câu hỏi thường gặp
1. Mâu thuẫn cốt lõi trong vận hành mùa lũ của hệ thống hồ Hòa Bình và Sơn La là gì?
Mâu thuẫn xảy ra giữa nhiệm vụ phòng lũ cho hạ du (đòi hỏi duy trì dung tích trống lớn dưới mực nước dâng bình thường) và mục tiêu phát điện, cấp nước mùa kiệt (đòi hỏi tích nước lên cột nước cao càng sớm càng tốt để tối đa hóa sản lượng điện và đảm bảo đủ lượng nước trữ cho mùa khô).
2. Thời kỳ tích nước mùa lũ trong luận án được phân chia thành các giai đoạn nào?
Luận án phân chia làm 2 giai đoạn: Thời kỳ tích nước hạn chế (từ ngày 15/06 đến ngày 21/08 hàng năm) và Thời kỳ tích nước gia tăng / lũ muộn (từ ngày 22/08 đến cuối mùa lũ).
3. Tiêu chuẩn phòng chống lũ và mực nước thiết kế khống chế tại Hà Nội được quy định như thế nào?
Theo Quyết định 257/2016/QĐ-TTg và QT1622, Thủ đô Hà Nội phải đảm bảo an toàn với lũ chu kỳ lặp lại 500 năm (tần suất 0,2%), mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá 13,4 m và lưu lượng không quá 20.000 m³/s. Các vùng đồng bằng còn lại đảm bảo an toàn với lũ chu kỳ 300 năm (tần suất 0,33%), mực nước Hà Nội không vượt quá 13,1 m.
4. Luận án sử dụng những công cụ tính toán và mô hình toán nào?
Luận án ứng dụng MS Excel để tính toán điều tiết dòng chảy qua hồ chứa theo phương pháp thử dần và sử dụng mô hình thủy lực 1 chiều MIKE 11 của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) để mô phỏng, diễn toán lũ trên mạng lưới sông Hồng – Thái Bình.
5. Khi xảy ra lũ lớn bất thường vào cuối mùa lũ khi các hồ đã tích đầy nước, giải pháp ứng phó của luận án là gì?
Giải pháp là chủ động hạ mực nước hồ Sơn La và Hòa Bình xuống mức đón lũ an toàn dựa trên kết quả bản tin dự báo dòng chảy 3 ngày (thời gian dự kiến 48h–72h), sau đó vận hành điều tiết xả lũ kết hợp liên hồ để giữ lưu lượng tại Sơn Tây dưới 28.000 m³/s và mực nước Hà Nội không vượt quá 13,4 m.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Thị Minh Huệ đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn để giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa nhiệm vụ phòng lũ và tích nước phục vụ cấp nước, phát điện cho hệ thống hồ chứa bậc thang Sơn La và Hòa Bình trên sông Đà. Bằng phương pháp mô phỏng thủy lực kết hợp nguyên tắc điều hành theo thời gian thực và dự báo dòng chảy 3 ngày, công trình đã xác định được mực nước giới hạn tích nước an toàn $H_{gh}$ trong thời kỳ tích nước hạn chế và xây dựng phương án ứng phó hiệu quả khi xảy ra lũ bất thường cuối vụ. Kết quả nghiên cứu là tài liệu khoa học hỗ trợ trực tiếp cho công tác điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng và quản lý vận hành thực tế hàng năm.