Đặt vấn đề Với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và tăng trưởng về dân số, tổng số nhu cầu về gỗ và các sản phẩm từ gỗ tiếp tục tăng trong tương lai, trong khi diện tích rừng giảm nhanh chóng, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng gỗ. Vì vậy việc tìm ra một nguyên liệu thay thế là rất cần thiết. Với diện tích lớn, chu kỳ khai thác ngắn, tre và các cây thuộc họ tre là nguồn nguyên liệu tối ưu, đồng thời có hiệu quả kinh tế cao như tiết kiệm chi phí, phát triển nhanh, với tính chất vật lý, cơ học tốt thể hiện tiềm năng lớn để có thể thay thế gỗ. Trong các loài tre thì Luồng có tỷ lệ xenlulo cao nhất , với tỷ lệ là 54% là một trong những cây được sử dụng nhiều để sản xuất những sản phẩm thay thế gỗ hiện nay.
Cây Luồng được đánh giá là nguồn lâm sản quan trọng, là nguồn tài nguyên phong phú. Luồng có nhiều công dụng khác nhau làm vật liệu xây dựng, đồ nội thất, công cụ lao động, thủ công mỹ nghệ, nghành công nghiệp giấy. Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, hầu hết các loại gỗ rừng trồng và tre nứa đều dễ bị côn trùng và nấm gây hại sau khi khai thác, trong quá trình chế biến và sử dụng. Nhằm giải quyết vấn đề đó nghành chế biến lâm sản đã và đang không ngừng nghiên cứu công nghệ bảo quản Vì vậy việc nghiên cứu và bảo quản để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của nhân dân và nhằm nâng cao khả năng chống chịu với môi trường cho lâm sản là hết sức quan trọng và cấp thiết, nó mở ra cho việc sử dụng lâm sản một phạm vi rộng rãi và có độ bền tốt hơn.
Xuất phát từ thực tế trên và nguyện vọng của bản thân muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình và việc nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp bảo quản giúp địa phương kinh doanh có hiệu quả hơn, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo quản Luồng (Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. ) bằng thuốc Cislin 2.5 EC tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài trọng tâm nghiên cứu và giải quyết những vấn đề trọng tâm sau: - Đánh giá được hiệu lực của thuốc Cislin đối với Nấm. - Đánh giá được hiệu lực của thuốc Cislin đối với Mối.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện đề tài là cơ hội để củng cố, áp dụng kiến thức đã được học trong nhà trường, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn đồng thời nâng cao kiến thức, sự hiểu biết và năng lực thực hành cũng như kỹ năng nghiên cứu khoa học cho bản thân. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo, là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ kĩ thuật trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực lâm nghiệp. Có cái nhìn tổng quát về bảo quản Luồng bằng thuốc Cislin 2.5 EC nói chung và bảo quản các lâm sản khác nói riêng.
Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội thực nghiệm thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, phân tích đánh giá tình hình và là bàn đạp cho sự ra đời của những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn Từ kết quả nghiên cứu có thể làm các cơ sở sử dụng thuốc hóa học trong mức giới hạn phù hợp nhằm đem lại hiệu quả phòng trừ nấm mốc, côn trùng tốt nhất cho các cây họ tre nói chung và Luồng nói riêng. Từ kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu lực của thuốc Cislin 2.5 EC để phòng trừ các tác nhân gây hại như nấm và mối từ đó làm cơ sở bảo quản cho Luồng, nâng cao năng suất và chất lượng Luồng góp phần đáp ứng mục tiêu kinh doanh. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học 2. Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản Bảo quản lâm sản là biện pháp tổng hợp giữ gìn nhằm kéo dài thời gian sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động không tốt của môi trường bao gồm: 1) Bảo quản kĩ thuật là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: Cách li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao. 2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh vật hại gỗ. 3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côn trùng để diệt sinh vật hại gỗ.
Tầm quan trọng của công tác bảo quản Gỗ, tre nứa, song mây là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và các đồ gia dụng thiết yếu khác. Các lâm sản này được sử dụng không những ở vùng giàu tài nguyên lâm sản mà còn cả vùng rất hiếm tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và gỗ. Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: Chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre, gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói. Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm.
Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối với sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm. Công nghệ bảo quản ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học. Việc áp dụng công nghệ bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu: Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên. Nhằm tăng giá trị sử h 4 dụng của các sản phẩm, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây hại như mối mọt, nấm mục, hà biển v.
gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng. Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình sử dụng lâm sản. Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX. Nó không những đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân.
Phương pháp bảo quản 2. Phương pháp phun, quét + Phương pháp quét Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất, như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ. [13] + Phương pháp phun Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít. Tác dụng bảo quản: Mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt.
Nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các chỗ khe ngóc ngách quét. Những vấn đề về nguyên liệu 2. Nguyên liệu Nguyên liệu : Tre Luồng Tên khoa học: Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Li, 1988 h 5 Tên khác: Luồng thanh hoá, mạy sang mú (Thái- Tây Bắc); mét (Thái và Kinh – Nghệ An) Họ: Hoà thảo – Poaceae Phân họ: Tre – Bambusoidea Về tên khoa học có sự thay đổi: Trước đây trong hầu hết các tài liệu và sách giáo khoa về lâm nghiệp của Việt Nam, Luồng được mang tên khoa học là Dendrocalamus membranaceus Munro.
Nhưng đối chiếu với mô tả và hình vẽ của Dendrocalamus membranaceus Munro, tre Luồng của Việt Nam có các sai khác cả về hình thái của cơ quan sinh dưỡng và sinh sản như sau: Luồng có kích thước lớn hơn, đầu mo thân lõm, tai mo lớn mang rất nhiều lông; bông chét nhỏ và tù đầu hơn. Vì vậy tên khoa học của luồng đã được giám định lại từ năm 2004 là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Việc thay đổi tên khoa học của loài luồng cũng đã được sự nhất trí của 2 chuyên gia về định loại tre nứa của Trung Quốc là Giáo sư Li De Zu (Viện Thực Vật Côn Minh) và Gs Xia nia Nhe – Hà Niệm Hoà (Viện Thực vật Nam Kinh) (2004). - Một số đặc điểm và tính chất của tre Luồng * Đặc điểm hình thái: Luồng là loại tre to, không gai, lá nhỏ, mọc cụm – thân ngầm dạng củ, thưa cây, thân khí sinh có ngọn cong ngắn.
Kích thước cây trung bình: Thân Luồng cao 14m, ngọn cong 1m, đường kính 10cm, lóng dài 30cm, vách thân dầy 1cm, thân Luồng tươi nặng 37kg. Thân cây nây – độ thon ít, thẳng, tròn đều. Hai phần ba thân tre Luồng về phía gốc tròn đều, vòng đốt không nổi rõ, 2-3 đốt cuối cùng có ít rễ. Một phần ba thân tre về phía ngọn mang cành lá, thân có vết lõm nông, nơi quang trống thì cành có thể xuống gần gốc.
Mỗi đốt có một cành chính to, dài và 2-5 cành nhỏ hơn, gốc cành chính phình to (gọi là đùi gà) có khả năng phát sinh mầm và rễ. Chét là những cành ở sát mặt đất gữa phần gốc thân khí sinh và phần củ thân ngầm. Phiến lá thuôn hình ngọn giáo, dài 18cm rộng 1,5cm hai mép có răng sắc rất nhỏ, đầu nhọn đuôi hình nêm hay gần tù. Lá khi non màu xanh thẫm, mềm mại; khi già màu xanh nhạt có những chấm nhỏ màu gỉ sắt.
Bẹ mo hình chuông, đáy trên 10cm đáy dưới 30cm, h 6 cao 37cm; lúc non 1/2 phía trên màu vàng đỏ, 1/2 phía dưới màu vàng xanh; mặt ngoài có nhiều lông mầu tím nâu- hung đen. Tai mo phát triển và có nhiều lông màu nâu.