CHƯƠNG 1 CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TRONG ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO 1.1 Các cam kết về ngoại hối và thanh toán 1.1 Đối với giao dịch vãng lai - Biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai được tự do, quy định tạm thời phải kết hối ngoại tệ tập trung ngoại tệ vào hệ thống NH để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu về ngoại tệ cho nền kinh tế và nới lỏng dần khi tình hình kinh tế được cải thiện. - Biện pháp quản lý ngoại hối chỉ được áp dụng trong những trường hợp ngoại lệ, do Chính phủ VN quyết định, nhằm duy trì an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia. - Các hạn chế đối với giao dịch vãng lai được bãi bỏ và không duy trì bất kỳ biện pháp nào trái với các cam kết về các dịch vụ NH, các dịch vụ tài chính khác cũng như về thanh toán giao dịch vãng lai và chuyển tiền quốc tế.2 Đối với các giao dịch vốn: - Nới lỏng các giao dịch chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào VN và việc vay, hoàn trả nợ vay nước ngoài của các tổ chức cư trú; chỉ duy trì một số hạn chế về các giao dịch chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của các tổ chức cư trú, việc chuyển vốn này phải được các cơ quan có thẩm quyền cho phép và phải trong phạm vi số ngoại tệ thuộc sở hữu của các tổ chức này, các giao dịch này phải đăng ký với NHNN VN. - Các DN được tự do ký các hợp đồng vay nước ngoài, theo nghị định 134/2005/NĐ-CP (1/11/2005), nghĩa vụ đăng ký các hợp đồng trung dài hạn với NHNN là vấn đề có tính thủ tục để phục vụ cho các mục đích thống kê giám sát hoạt động vay nợ trung dài hạn nước ngoài của các DN và phối hợp với Bộ tài chính để bảo đảm các khoản nợ nước ngoài của quốc gia trong phạm vi an toàn.
2 - Đối với việc hoàn trả các khoản vay, các khoản đầu tư vốn ra nước ngoài của các DN, phải đáp ứng các điều kiện về giấy phép đầu tư ra nước ngoài, mở tài khoản ngoại tệ, và các giao dịch chuyển vốn đầu tư, các giấy tờ cần thiết để xin giấy phép đầu tư ra nước ngoài. - Các DN được phép đầu tư ra nước ngoài, có thể chuyển lợi nhuận có được từ các khoản đầu tư của họ tại VN ra bất cứ nơi nào ở nước ngoài, hoặc có thể mở các tài khoản ngoại tệ để thực hiện vay nước ngoài trung dài hạn, được phép mở tài khoản ngoại tệ cho các hoạt động khác trong các trường hợp đặc biệt. - Các hạn chế để bảo đảm an toàn cán cân thanh toán được xem xét áp dụng khi Việt Nam gặp phải những khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế, các quy định về ngoại hối của Việt Nam được IMF rà soát mỗi năm một lần. - Về cân đối ngoại tệ: chính phủ xem xét cân đối nhu cầu ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án đặc biệt trong các chương trình của chính phủ; hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng và một số dự án quan trọng khác, trong trường hợp các NH được phép giao dịch ngoại hối nhưng không thể đáp ứng yêu cầu về ngoại tệ.2 Các cam kết về chính sách thương mại dịch vụ liên quan đến NH Các TCTD nước ngoài được hoạt động tại VN dưới các hình thức và thời gian - Văn phòng đại diện chi nhánh NH nước ngoài: thời hạn hoạt động không được vượt quá thời hạn hoạt động của chi nhánh NH nước ngoài này.
- NH liên doanh, NH 100% vốn nước ngoài: thời hạn hoạt động không quá 99 năm và không được vượt quá thời hạn hoạt động của NH mẹ ở nước ngoài. - Cty tài chính liên doanh, Cty tài chính 100% vốn nước ngoài; Cty cho thuê tài chính liên doanh, Cty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài: thời hạn là 50 năm, các giấy phép hoạt động này có thể được gia hạn. Vốn góp của bên nước ngoài vào một NH liên doanh hoạt động với tư cách của một NHTM không được vượt 50% vốn điều lệ của NH; vốn góp của bên nước ngoài vào một TCTD phi NH liên doanh cần phải đạt ít nhất là 30% vốn điều lệ. 3 Tổng mức cổ phần của các tổ chức và cá nhân nước ngoài được giới hạn ở mức 30% vốn điều lệ của một NHTM CP VN.
Từ ngày 1/4/2007, các TCTD nước ngoài được phép mở chi nhánh tại VN theo các điều kiện: - Một NHTM nước ngoài muốn mở chi nhánh tại VN, NH mẹ phải có tổng tài sản hơn 20 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở chi nhánh. - Thành lập một NH liên doanh hoặc NH 100% vốn nước ngoài, NH mẹ phải có tổng tài sản hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở NH. - Với Cty tài chính 100% vốn nước ngoài, phải có tổng tài sản có hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. Các điều kiện đối với các chi nhánh NH nước ngoài và các NH 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử.
Về tham gia cổ phần: Việt Nam có thể hạn chế việc tham gia cổ phần của các TCTD nước ngoài tại các NHTM quốc doanh của VN được cổ phần hoá như mức tham gia cổ phần của các NH VN. Việc góp vốn (hình thức mua cổ phần), tổng số cổ phần được phép nắm giữ bởi các thể nhân và pháp nhân nước ngoài tại mỗi NHTMCP VN không được vượt quá 30% vốn điều lệ của NH.3 Những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng được cam kết Các cam kết về dịch vụ NH, các dịch vụ tài chính khác được thực hiện phù hợp với các luật và các qui định liên quan được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và theo nguyên tắc chung, trên cơ sở không phân biệt đối xử. Những sản phẩm, dịch vụ đã cam kết: (1) Nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng. (2) Cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm TD tiêu dùng, TD cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch TM.
(3) Thuê mua tài chính. (4) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ TD, thẻ thanh toán và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu NH. 4 (5) Bảo lãnh và cam kết. (7) Môi giới tiền tệ.
(8) Quản lý tài sản, như quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác. (10) Cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác. (l1) Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác đối với tất cả các hoạt động được nêu từ các tiểu mục (1) đến (10), kể cả tham chiếu và phân tích TD, nghiên cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại và về tái cơ cấu và chiến lược DN.4 Về lộ trình cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Kể từ khi gia nhập, các TCTD nước ngoài được phép phát hành thẻ TD trên cơ sở đối xử quốc gia, và trong vòng 5 năm Việt Nam có thể hạn chế quyền của chi nhánh NH nước ngoài, được nhận tiền gửi bằng VND từ các thể nhân VN mà NH không có quan hệ TD theo tỷ lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh phù hợp với lộ trình sau: Ngày 1/1/2007: 650% vốn pháp định được cấp. Ngày 1/1/2008: 800% vốn pháp định được cấp.
Ngày 1/1/2009: 900% vốn pháp định được cấp. Ngày 1/1/2010: 1000% vốn pháp định được cấp. Ngày 1/1/2011: Đối xử quốc gia đầy đủ. CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về cạnh tranh & năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh: Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế thị trường.
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh, theo từ điển KD của Anh, cạnh tranh được hiểu là “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà KD trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại KH về phía mình”. Theo quan điểm này, cạnh tranh được hiểu là các mối quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy KH cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Cạnh tranh xuất phát từ hai điều kiện cơ bản là phân công lao động xã hội và tính đa nguyên chủ thể lợi ích kinh tế, điều này làm xuất hiện các cuộc đấu tranh giành lợi ích kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các tổ chức trung gian, thực hiện phân phối lại các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Cuộc đấu tranh này dựa trên sức mạnh về tài chính, kỹ thuật công nghệ, chất lượng đội ngũ lao động, quy mô hoạt động của từng chủ thể.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, với người sản xuất KD là lợi nhuận và với người tiêu dùng là tiện ích tiêu dùng. Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng đến nay vẫn là khái niệm chung chung và khó đo lường, theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, “năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”. 6 Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa: “năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.